Tòa Án Hình Sự QuốcTế

Ls NGUYỄN THÀNH : Hãy đem bọn tội phạm Việt-Cộng ra trước Toà Án Quốc Tế hay Toà Án các Quốc Gia

Lời Thưa.- Bài viết dưới đây được thực hiện cho Đặc San Luật Khoa [phát hành vào dịp] Hội Ngộ Mùa Thu Cựu Sinh Viên Luật Khoa (CSVLK) Sàigòn-Huế-CầnThơ, do các CSVLK “trẻ” tổ chức ở San Jose, California, Hoa Kỳ, vào ngày 16/10/2010 sắp tới.

Thật ra, đây chỉ là tóm lược một phần của một bài nghiên cứu khá dài do người viết biên soạn ngay sau khi Toà Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” [International Criminal Court =ICC] ra đời ngày 11/4/2002 và được báo chí ở Bắc California phổ biến hồi tháng 5 và 6/2002.

Gần đây, cùng với việc đưa đất nước đến chỗ nguy cơ trở thành Tây Tạng 2 của Trung-Quốc, Việt-Cộng đang mưu toan giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung-Cộng qua Luật Biển LHQ, việc đem các tội ác của Việt-Cộng ra trước Công Lý Quốc Tế lại được nêu lên. [1]

Từ Sàigòn, ngày 22/8/2010 vừa qua một số cựu tù nhân chính trị lâu năm nhất tố cáo: Cho đến nay, vẫn còn hàng trăm người bị giam cầm vô hạn định, trong đó có Đại Úy QLVNCH Nguyễn Hữu Cầu, bị giam giữ trái phép đã gần 34 năm và bị hành hạ đến gần mù cả 2 mắt.

Khung hướng của Luật Pháp Quốc Tế hiện nay liệt các “tội bắt bớ, hành hạ, thủ tiêu,… người đối lập” vào loại “tội ác nhân quyền” hay “tội ác chống nhân loại” và kẻ bị cáo buộc “có thể bị đem ra xét xử bất cứ ở đâu” và “bị truy lùng đến tận cùng trái đất để đem ra trước công lý.”
Người viết xin được phổ biến rộng rãi bài viết vì những gì được nêu trong bài vẫn còn nguyên gía trị và hữu ích đối với việc đem các tội ác của Việt-Cộng ra trước Công Lý Quốc Tế, một phương cách khả thi “cứu nguy đất nước” trước hiện tình “Tổ Quốc lâm nguy” hơn bao giờ hết.

Khuynh Hướng của Luật Pháp Quốc Tế

Sau Thế-Chiến 1939-1945, Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “ad hoc” Nuremberg và Tokyo [2] được thiết lập để xét xử bọn chóp bu quốc-xã Đức và quân-phiệt Nhật, những kẻ đã gây chết chóc và tàn tật cho nhiều triệu người trên thế giới. Khi hai Tòa Án này hoàn tất nhiệm vụ cuối năm 1946, bốn Công Ước Quốc Tế về “chiến tranh” và “nhân quyền” ra đời ở Genève với ước mong là các hành vi tàn ác man rợ sẽ không còn tái diễn nữa. Nhưng cuộc chiến tranh lạnh giữa khối Tự Do và Cộng Sản lại tiếp diễn, kéo dài hơn nửa thế kỷ và chém giết, thủ tiêu, tra tấn, tù đầy,… lại hoành hành tàn bạo khắp nơi và thủ phạm không hề bị truy tố, xét xử ở bất kỳ Tòa Án nào.

Sau khi khối Cộng Sản tan rã [năm 1991] không còn tác yêu tác quái được nữa, cộng đồng thế giới lại bắt tay vào việc thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “ad hoc” Bosnia và Rwanda để trừng trị các tội ác man rợ ở Âu và Phi-châu, thực hiện châm ngôn “ở đâu có xã hội, ở đó phải có luật pháp” [ubi societas, ibi jus]. Và khuynh hướng quốc tế ngày càng đòi phải có một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” để xét xử những tội ác đối với nhân loại, một tòa án quốc tế hữu hiệu có thẩm quyền tài phán bao trùm khắp nơi mới có thể duy trì được “hòa bình, an ninh” thế giới, hai mục tiêu của LHQ.

Đó là lý do, tháng 6/1998, một hội nghị quốc tế qui tụ 4/5 hội viên LHQ và trên 800 “tổ chức phi chính phủ” [non-governmental organization] hội họp ở trụ sở chi nhánh của Hội Đồng Kinh Tế-Xã Hội [LHQ] ở Rome cùng với Tổng Thư Ký LHQ Kofi Anna để bàn thảo việc thiết lập Toà Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” [ICC]. Ngày 17/7/1998, 121 nước tham dự hội nghị ký kết Quy Chế Rome thiết lập ICC nhưng ICC vẫn chưa ra đời vì chưa đủ 60 nước phê chuẩn theo quy định. Trong khi đó, Toà Án Quốc Tế Bosnia lại “dậm chân tại chỗ” và Toà Án Quốc Tế Rwanda thì “thất bại” hoàn toàn vì thiếu tài chánh.

Thẩm phán Tây Ban Nha (Spain) Baltasar Gapzon, nhà tranh đấu nhân quyền tích cực, không thể kiên nhẫn được nữa khi tội ác nghiêm trọng xảy ra khắp địa cầu và tội phạm thì vẫn nhởn nhơ. “Cuộc cách mạng xanh” của giới thẩm phán xảy ra : Ngày 16/10/1998, Thẩm phán Tây Ban Nha Gapzon đã gây chấn động thế giới khi ký trát bắt giam cựu Tổng Thống Chile Augusto Pinochet về các tội ác xảy ra trong thời gian cầm quyền [1973-1990] khi ông này đến Anh, dẫn đến phán quyết “làm rung chuyển luật pháp quốc tế” của Tòa Tối Cao Anh. Ngày 2/3/2000, kết thúc vụ án Pinochet, Toà Tối Cao Anh phán quyết: “Một nguyên thủ quốc gia bị cáo buộc vi phạm nhân quyền có thể bị đem ra xét xử bất cứ ở đâu.” [3]

Luật gia trứ danh Pháp Samuel Pisar trả lời phỏng vấn về phán quyết của Toà Tối Cao Anh đã nói: “Sự đòi hỏi phổ quát ngày nay là những tội phạm chống nhân loại phải bị truy lùng đến tận cùng trái đất, bất cứ ở đâu và bất kỳ lúc nào có thể tìm ra chúng để đem ra xét xử trước công lý.” [4]

Tiếp theo, hàng loạt sự kiện xảy ra trên thế giới đã thể hiện sự hân hoan đón nhận phán quyết lịch sử của Toà Tối Cao Anh hay “luật lý” của Thẩm Phán Gapzon. Năm 2002, Toà Liên Bang Mỹ ở New York đã chấp nhận thụ lý vụ thân nhân sinh viên bị sát hại ở Thiên An Môn ngày 8/6/1989 kiện Thủ Tướng Trung-Cộng Lý Bằng và ra phán quyết khuyến cáo Tổng Thống Zimbabwe Magube phải bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân “bị tra tấn, hành hạ” hay thân nhân các người “bị sát hại” bởi đảng cầm quyền của Magube ở Zimbabwe, khi Lý Bằng và Magube đến New York họp Đại Hội Đồng LHQ hàng năm với tư cách nguyên thủ một nước.

Ngày 24/4/2002, thẩm phán Gapzon cùng với một đồng nghiệp ngưòi Pháp yêu cầu Tòa Án Anh cho phép thẩm vấn Kissinger, khi ông này đến diễn thuyết trước 2500 doanh gia ở đại sảnh đường Royal Albert Hall, London, về những liên hệ của Kissinger với các tội ác xảy ra ở Chile dưới thời Pinochet [1973-1990] và tuy Gapzon không thành công nhưng đã khiến Kissinger phải bỏ dở buổi diễn thuyết và vội vàng về Mỹ.

Ngày 11/4/2002, Toà Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” đầu tiên của thế giới ra đời tại trụ sở LHQ ở New York, sau khi được 10 nước phê chuẩn trong cùng một ngày, nâng số nước phê chuẩn Quy Chế Rome lên 66, vượt quá số 60 quy định, và Toà Án có hiệu lực từ ngày 1/7/2002. Cho đến nay, Toà Án Quốc-gia của Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Canada,… đều có thẩm quyền tài phán “quốc tế” như phán quyết của Toà Tối Cao Anh trong vụ Pinochet.

Toà Án Quốc Tế và Tội Ác Việt Cộng

1. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “tạm thời”?
Ngày 25/5/1993, lần đầu tiên Hội Đồng Baỏ An LHQ ra Nghị Quyết thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “tạm thời” [International Criminal Court “ad hoc” Bosnia] để truy tố nguyên thủ đương quyền và 26 cộng sự viên về các “tội ác chống nhân loại” và “tội ác chiến tranh” xảy ra trong phạm vi một nước, gồm đương kim Tổng Thống Liên Bang Nam Tư Slobadan Milosovic, đương kim Tư Lệnh Quân Đội Nam Tư Dragoljub Ojdanic và Tổng Thống Serbia, Milan Milutinovic, trong Liên Bang Nam Tư.

Công tố viên đầu tiên của Tòa Án này là bà Louise Arbour đã nổi tiếng thế giới khi ra trát bắt giam đích danh Tổng Thống Milosovic và cộng sự viên về các “tội ác nghiêm trọng” xảy ra trong lúc cầm quyền. Công tố viên kế nhiệm là bà Carla D. Ponte, trong phiên xử khai mạc vào tháng 2/2002, tuyên bố: “Tòa Án này bắt đầu xét xử cựu Tổng Thống Nam Tư với những cáo buộc về “tội diệt chủng” và nhiều “tội ác nghiêm trọng” khác. Chúng ta sẽ được thấy nền Công Lý Thế Giới đang được tiến hành.”

Ngày 11/4/2002, Quốc Hội Nam Tư đã hợp tác với Toà Án Quốc Tế Bosnia khi thông qua đạo luật về dẫn độ, cho phép chính phủ Nam Tư bắt giữ và dẫn độ tới Tòa Án đang diễn ra ở La Hague các tội phạm bị truy tố. Ngày 17/4/2002, hành pháp Nam Tư lệnh cho các bị cáo tự nộp mình cho Tòa Án để đổi lấy quyền tại ngoại trước khi xét xử.

Tư Lệnh Quân Đội Ojdanic bị cáo buộc tội cưỡng bách dân Albania ra khỏi Kosovo để dành riêng vùng này cho sắc dân Serb là người đầu tiên đến trình diện Tòa Án. Phó Thủ Tướng Nam Tư Nikola Sainovic cũng bay sang Hòa Lan trình diện Tòa cùng với Trưởng các trại giam vùng Bosnia, Momcilo Gruban, người bị cáo buộc về các tội tra tấn, đánh đập, hãm hiếp tù nhân và làm chết nhiều người. Và chỉ vài giờ đồng hồ sau khi Quốc Hội Nam Tư thông qua luật dẫn độ cho phép bắt giữ và dẫn độ các bị cáo, Bộ Trưởng Nội Vụ Nam Tư là Vlajko Stojilkovic đã tự tử để tránh sự nhục nhã.

Trong 3 bản cáo trạng dầy gần 160 trang, Milosovic và cộng sự viên bị cáo buộc về các “tội ác chống nhân loại” và “tội ác chiến tranh”, bao gồm các “tội lạm quyền”, “tội tra tấn, hành hạ thường dân vô tội”, “tội tra tấn, ám sát, thủ tiêu, bỏ tù các nhà đối lập”, “tội cưỡng bách các dân tộc thiểu số phải rời bỏ nơi họ đang sinh sống,”… Theo cố Ls Phạm Thanh Dân, từng hành nghề nhiều năm tại Paris, “tất cả các tội ác nghiêm trọng của tập đoàn CS cầm quyền Hà Nội đối với dân tộc VN suốt bao năm qua là những tội ác chống nhân loại và bất khả thời tiêu.” [5]

2. Tòa Án Quốc Gia có Thẩm Quyền “quốc tế”?

Thật ra, trước khi xảy ra phán quyết lịch sử ngày 2/3/200 của Toà Tối Cao Anh, toà án một số nước đã có các phán quyết “nới rộng” thẩm quyền tài phán của Toà Án Quốc Gia.

Vụ án Eichmann : Sau khi Tòa Án Quốc Tế ad hoc Nuremberg xét xử xong nhóm đầu xỏ Quốc-Xã Đức vào cuối năm 1946, Tòa Án các nước vẫn tiếp tục truy nã và xét xử bọn tội phạm Đức còn sót lại. Điển hình là Aldolf Eichmann, chuyên viên giết người của Hitler, đã dùng lý lịch và thông hành giả lẩn trốn ở nhiều nước và sau cùng bị Do Thái bắt ở Argentina. Ngày 11/12/1961, Tòa Án Quốc Gia Do Thái đã lên án tử hình Eichmann về tội ác diệt chủng đối với dân Do Thái trong Thế Chiến II.

Qua vụ án Eichmann, Tòa Án Do Thái đã minh định 2 nguyên tắc quan trọng:

[a] Nguyên tắc “luật hình có giá trị hồi tố đối với các tội phạm nghiêm trọng.” Khi Eichmann phạm tội ác đối với dân Do Thái vào thời điểm 1939-1945, nước Do Thái chưa ra đời. Do Thái ra đời vào ngày 14/5/1948 bởi Nghị Quyết của LHQ vào ngày 29/11/1947. Do Thái ban hành “luật hình có hiệu lực về quá khứ” năm 1948 để trừng phạt nhóm Đức Quốc-Xã lẩn trốn, chưa bị trừng trị.

[b] Nguyên tắc “lãnh thổ không giới hạn thẩm quyền của Tòa Án các nước đối với các tội phạm nghiêm trọng”cũng được Tòa Án Do Thái căn cứ vào để ra phán quyết trừng phạt Eihmann về các tội ác nghiêm trọng xảy ra ngoài lãnh thổ Do Thái gần 20 năm trước.

VViện dẫn lý do gìn giữ kênh đào Panama theo hiệp ước Mỹ-Panama [1978] và lý do bảo vệ công dân Mỹ, ngày 20/12/1989 Tổng Thống George Bush cho quân đội Mỹ hành quân vào Panama bắt Tổng Thống Panama Manuel A. Notiego đem về giam ở Florida. Năm 1992, Toà Liên Bang Mỹ ở Florida tuyên án phạt Noriego 30 năm tù về các “tội rửa tiền” và “tội buôn lậu ma túy.”

Qua vụ án Noriego, Tòa Liên Bang Mỹ, ngoài sự công nhận nguyên tắc “lãnh thổ không giới hạn thẩm quyền của Toà Án Quốc Gia đối với các tội ác nghiêm trọng” còn minh định “tội rửa tiền” và “tội buôn lậu ma túy” là “tội ác nghiêm trọng” và “bị luật pháp quốc tế trừng trị.”
Vụ án Pinochet: Ngày 16/10/1998, thế giới sửng sốt trước tin cựu Tổng Thống Chile Augusto Pinochet bị Cảnh Sát Anh bắt giam tại London khi Pinochet tới đây nghỉ hè theo lời mời của bà M. Thatcher, cựu Thủ Tướng Anh, bạn thân của Pinochet và Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan.

Người ký trát nã bắt quốc tế là thẩm phán Tây Ban Nha Baltasar Gapzon đã cáo buộc Pinochet 35 tội ác, trong đó có “tội ác diệt chủng, bắt cóc, tra tấn, thủ tiêu đối lập”,… trong thời gian cầm quyền ở Chile [1973-1990], với trên 3,000 người bị giết, hơn 1,000 mất tích, trong đó có cả người ngoại quốc.

Toà Sơ Thẩm London quyết định Anh có thể dẫn độ Pinochet tới Tây Ban Nha một cách hợp pháp. Trái lại, Toà Thượng Thẩm bác bỏ quyết định của Toà dưới và phán quyết việc bắt giữ Pinochet là trái luật vì Pinochet được hưởng “quyền đặc miễn” truy tố. Nội vụ lên Tòa Tối Cao Anh, gồm 5 vị Thẩm Phán chuyên nghiệp [như Tối Cao Pháp Viện Mỹ] và ngày 2/3/2000, Tòa Án này phán quyết: “Một nguyên thủ quốc gia bị cáo buộc vi phạm nhân quyền có thể bị đem ra xét xử bất cứ ở đâu.”

Theo “tập tục pháp lý”, Tòa Án có thẩm quyền xét xử Pinochet phải là một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế như Tòa Án xét xử Milosovic hay một Tòa Án Quốc Gia của Chile mới có thẩm quyền tài phán. Nay, sau án lệ Pinochet, hầu như tất cả các Tòa Án Quốc Gia trên thế giới đều có quyền truy tố và xét xử những tội ác nghiêm trọng như trường hợp Pinochet.
Được tin Pinochet bị bắt ở Anh, các nạn nhân sống sót và gia đình các người bị sát hại đã cùng với các nhà tranh đấu cho nhân quyền biểu tình rầm rộ ở Chile đòi dẫn độ Pinochet đến Tây Ban Nha. Trong khi đó, Tổng Thống Chile Eduardo Frei và bà Magaret Thatcher ráo riết vận động Anh phóng thích Pinochet, trả về nước để Pinochet ra trước Toà Án Quốc Gia của Chile.

Về phần Pinochet, tuy phạm nhiều tội ác trong lúc cầm quyền nhưng đã được Tòa Án Chile ân xá và được phong tước Thượng Nghị Sĩ trọn đời nên tin tưởng là sẽ được hưởng quyền đặc miễn truy tố về trách nhiệm cá nhân trong lúc cầm quyền. Cuối cùng, dàn luật sư danh tiếng biện hộ Pinochet đã cứu Pinochet khỏi bị dẫn độ vì lý do nhân đạo, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của phe bảo thủ Anh và bà Thatcher.

Theo giám định y khoa của 4 bác sĩ, Pinochet 84 tuổi bị bịnh tiểu đường, bịnh tim và từng ngất xỉu 2 lần trong lúc bị giam ở London, bộ não bị chấn thương, chân phải gần tê liệt,… không thể chịu đựng nổi thủ tục pháp lý lâu dài ở Tây Ban Nha.
Theo luật dẫn độ của Anh, Toà Án Anh không có quyền ra lệnh dẫn độ; quyền này và quyền phóng thích thuộc về hành pháp Anh. Do đó, hành pháp Anh [lúc đó là Tổng Trưởng Jack Straw] đã ra lệnh phóng thích và trả Pinochet về Chile vì lý do nhân đạo.

Các tổ chức đấu tranh cho nhân quyền và những người chống đối việc phóng thích Pinochet biểu tình ở London để ngăn chặn chuyến bay chở Pinochet về Chile không thành công vì tới trễ. Chuyến bay chở Pinochet của không lực Chile đã khởi hành, chỉ 2 giờ sau khi có quyết định phóng thích Pinochet, và không ghé bất cứ nước nào vì sợ bị bắt lại, ngoại trừ một hòn đảo nhỏ thuộc Anh-quốc để tiếp tế nhiên liệu.

3. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực”? [ICC] [6]

Trước sự “chậm trễ” của Toà Án Quốc Tế “tạm thời” Bosnia và trước tình hình tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh,… ngày càng gia tăng, tháng 6/1998 một Hội Nghị Quốc Tế quy tụ 4/5 nước hội viên LHQ hội họp ở Rome cùng với ông Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan bàn thảo việc thiết lập một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” có thẩm quyền tài phán đối với tất cả các tội ác nghiêm trọng trên toàn thế giới.

Sau 5 tuần lễ thảo luận, ngày 17/7/1998, 121 nước ký kết [signature] Quy Chế Rome thiết lập một Toà Án Hình Sự Quốc Tế thường trực. Tuy nhiên, Quy Chế Rome chỉ có hiệu lực khi được 60 nước phê chuẩn [ratification]; do đó Toà Án vẫn chưa hình thành. Phải đến ngày 11/4/2002 Toà Án mới ra đời [và có hiệu lực từ 1/7/2002], sau khi được 10 nước phê chuẩn trong cùng một ngày, nâng số nước phê chuẩn Quy Chế Rome lên 66, vượt quá con số 60 quy định. [7]

Vào ngày 17/7/1998, kết thúc hội nghị Rome, ông Annan tuyên bố: “Tòa Án Hình Sự Quốc Tế thường trực đang hình thành nhằm cung cấp những gì từ lâu được xem là mắt xích bị thiếu trong hệ thống pháp lý quốc tế để xét xử những tội ác liên quan sâu đậm đối với nhân loại và những tội ác chiến tranh” và, theo Annan, “giấc mơ ấp ủ từ lâu về một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế thường trực nay được thực hiện.”

Trách nhiệm cá nhân
Điều 1, Điều 25 và Lời Mở Đầu Quy Chế minh định:
[a] ICC có thẩm quyền xét xử các “cá nhân” vi phạm các “tội ác nghiêm trọng” quốc tế quan tâm, quy định trong Quy Chế Rome;
[b] ICC có quyền xét xử “bổ xung” đối với các Tòa Án Quốc Gia.

Tức là:
[a] Nếu quốc-gia là chủ thể đi kiện hay bị kiện trước Toà Án Quốc Tế La Hague [1945] thì cá nhân có quyền đi kiện hay bị kiện trước Toà Án Hình Sự Quốc Tế [ICC] [ra đời ngày 1/7/2002].
[b] ICC sẽ thụ lý nếu Tòa Án Quốc Gia liên hệ [bao che] không đem các “cá nhân” vi phạm các “tội ác nghiêm trọng” ra xét xử hay xét xử nhưng trừng phạt không đúng mức.

Trách nhiệm hình sự
Các Điều khoản khác trong Quy Chế Rome quy định:
[a] Phán quyết của ICC có “tính cách cưỡng hành” [chứ không thể “không thi hành” như ICJ quy định được]
[b] Nguyên tắc “bất khả thời tiêu”: Điều 29 qui định nạn nhân không kiện được lúc này thì sau này kiện lúc nào cũng được, không bị bất cứ “luật hạn chế thời hiệu” nào làm mất đi tố quyền.

Tội ác nghiêm trọng
[a] Điều 5 minh định tổng quát các “tội ác nghiêm trọng” quốc tế quan tâm và trừng trị, gồm: Tội diệt chủng [Crimes of Genocide]; Tội ác chống nhân loại [Crimes against Humanity]; Tội ác chiến tranh [War Crimes]; Tội xâm lược [Crime of Aggression].
[b] Các Điều 6, 7, 8 giải thích và liệt kê các “tội ác nghiêm trọng” bị trừng phạt dài trên 6 trang giấy mà các “cá nhân” nạn nhân có thể kiện trước ICC.

Thẩm quyền tài phán
Điều 13 qui định ICC có thẩm quyền tài phán theo 3 phương cách:
[a] Do quốc gia hội viên khởi tố;
[b] Do HĐBA yêu cầu; hay
[c] Do Công Tố Viên của Tòa Án tự tiến hành điều tra; tức là: Công Tố Viên của ICC có thể tự tiến hành điều tra và đưa ra ICC xét xử các tội ác nghiêm trọng do nạn nhân khởi tố.

Kết luận.- Trong phạm vi một bài báo và nhiều điều không tiện nêu ra ở đây người viết xin được kết luận bài viết như sau:

1. Rõ ràng là việc thiết lập một “Toà Án Hình Sự Quốc Tế “tạm thời” để xét xử bọn tội phạm Việt-Cộng là một giải pháp khả thi mà HĐBA đã từng áp dụng ở Âu-châu, Phi-châu và gần đây là Á-châu với bọn Pol Pot ở Cambodia và tội ác của bọn Milosovic, Mabuge hay Pol Pot không thể nào so sánh về số lượng và thời lượng với các tội ác của Việt-Cộng đối với đất nước và dân Việt trong gần một thế kỷ qua, kể từ khi Hồ Chí Minh bán đứng nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Pháp.

2. Việc đem bọn tội phạm Việt-Cộng ra trước các “Toà Án Quốc Gia có thẩm quyền quốc tế” có phần “đơn giản” và “hữu hiệu” hơn. Ngoài các vụ án tiêu biểu nêu trên, ngày 26/1/2010, Toà Phá Án Paris đã thừa nhận “thẩm quyền quốc tế” của Toà Án Pháp khi cho phép toà dưới thụ lý vụ vợ của ông Ung, cựu Chủ Tịch Quốc Hội Cambodia, kiện trước Toà Án Pháp về việc chồng bà bị tra tấn và mất tích ở Cambodia trong thời gian từ 1975 đến 1979 mà trước đó Toà Thượng Thẩm Paris từ chối thụ lý.

3. Về giải pháp đem bọn tội phạm Việt-Cộng ra trước “Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” [ICC], Việt-Cộng là 1 trong số 6 nước [trên tổng số 198 hội viên LHQ] chống việc thiết lập ICC vì biết chắc sẽ bị đem ra xét xử trước ICC về đủ thứ tội ác đối với đất nước và dân Việt. Ngoài ra, theo Điều 4 Quy Chế Rome thì “ICC có thẩm quyền trên lãnh thổ các nước hội viên và trên lãnh thổ nước không phải là hội viên với sự thỏa thuận của nước này.”

Thế nhưng theo Điều 13 của Quy Chế thì “Công Tố Viên của Tòa Án có thẩm quyền tự tiến hành điều tra và đưa ra ICC xét xử các tội ác nghiêm trọng do nạn nhân khởi tố.” Khi Mỹ đe dọa rút chữ ký ra khỏi Quy Chế Rome vì sợ rằng các quân nhân Mỹ có mặt khắp nơi trên thế giới sẽ bị đem ra ICC xét xử về hình sự, Barbara Crossette, bỉnh bút chuyên về luật pháp của tờ New York Times nhận xét: “Dù Bush có rút chữ ký của Mỹ khỏi Quy Chế Rome cũng thế thôi; sẽ không một nước nào được xem là ngoài thẩm quyền tài phán của ICC. Trên lý thuyết, người Mỹ, từ hàng viên chức cao cấp nhất trong chính quyền như Bộ Trưởng Quốc Phòng hay Ngoại Giao đến người lính Mỹ, đều có thể bị truy tố về hình sự trước ICC.” [8]
Thẩm quyền giải thích và áp dụng luật là của Toà Án. Do đó, về giải pháp này, nạn nhân nên nộp đơn khiếu tố với Công Tố Viên để ICC quyết định là hợp lý nhất.

Nguyễn Thành
Coordinator “Justice & Peace for Paracel & Spratly Islands of Vietnam”

Tài Liệu Tham Khảo
-Rome Statute of the International Criminal Court [ICC], United Nations, Original: English and French.

http://untreaty.un.org/cod/icc/statute/romefra.htm

-Ratify or Reject: Examining the US’ Opposition to the ICC, Matthew A. Barett, 2000.
-International Human Rights law challenges to the new ICC, Yale Journal of International Law, 2001.
-The American Political Dictionary, Plano and Greenberg, Ninth and Tenth Edition.
-Vụ án Pinochet làm rung chuyển luật pháp quốc tế, Nguyễn Văn Thành, VN nhật báo San Jose, 5/8/2000.

Chú thích
[1] Cựu HQ Tr. tá QLVNCH Vũ Hữu San, tác gỉa “Địa Lý Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa,” sau khi đọc hồ sơ Hà Nội nộp LHQ ngày 6 và 7/5/2009 đã nhận xét: “Hà Nội đã lùi bước khi vẽ hải-đồ nộp LHQ. Dân chúng VN đừng bao giờ nghe chúng nói, hãy nhìn những gì chúng làm. Nếu xem hải-đồ Hà Nội vẽ để nộp LHQ, chúng ta sẽ thấy: 3/4 biển Hoàng Sa nằm trong hải-phận Trung-quốc; VN chỉ còn 1 đảo độc nhất là Tri Tôn, trong số hơn 100 đảo của nhóm Hoàng Sa; 4/5 biển Trường Sa không còn nằm trong hải phận VN. VN chỉ còn đảo Trường Sa nổi và 2 đảo chìm, trong số trên 100 đảo nổi và chìm của nhóm Trường Sa.”
Vẫn theo chuyên gia về Biển Đông Vũ Hữu San: “Hà Nội đã công khai vẽ hải đồ và chính thức nộp LHQ. Từ nay, VN cãi gì ngược lại về hải phận cũng không được. Hà Nội tuyên bố sẽ tìm mọi cách để giải quyết vấn đề Biển Đông và thời gian sắp tới hai bên “cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới Biển.” Khi đó, Trung Quốc sẽ dùng hải đồ mà VN đã nộp LHQ để đàm phán thì số phận Hoàng Sa Trường Sa coi như xong!”

[2] “ad hoc” [La-tinh,“for this purpose”,“for this occasion”] được dùng để chỉ tính cách “không thường trực”, “tạm thời”, cho một “mục đích” hay một “trường hợp” nào đó khi lập một Tòa Án Quốc Tế.

[3] “A former head of State charged with abuse of human rights can be brought to trial almost anywhere.”

[4] “An almost universal clamor today that those who commit crimes against hunanity must be persued to the ends of the world, whenever and wherever they can be found, and brought to justice.”

[5] Ls Phạm Thanh Dân là người đã soạn thảo nhiều tài liệu và do Gs Lương Thị Nga, Chủ Tịch Hội Phụ Nữ VN tại Pháp, trình bầy nhiều lần trước diễn đàn LHQ, trong các khóa họp về nhân quyền ở Geneva vào 2 năm 1994 và 1995. Nghiên cứu các tài liệu của cố Ls Dân, người viết nhận thấy hầu hết những điều ông liệt kê trong Tuyên Cáo tố cáo Việt-Cộng đọc trước LHQ đều được ghi lại trong Điều 6 và 7 của Quy Chế Rome về các “tội ác diệt chủng” và “tội ác chống nhân loại.”

[6] Xin đừng nhầm lẫn ICC với ICJ [International Court of Justice], thường gọi là Toà Án Quốc Tế La Hague, do LHQ lập năm 1945, để phân xử tranh chấp giữa các nước hội viên LHQ. Quy Chế của Toà này quy định: Một bên tranh tụng có quyền “không thi hành” phán quyết của ICJ, dù chính nước này tự ý nhờ ICJ phân xử.

Vì thế, vai trò tài phán của ICJ chỉ là con số “0” và giới luật gia quốc tế cho rằng ICJ không phải là tòa án đúng với nghiã của nó mà chỉ là một “ủy ban trọng tài” trong đó hai bên tranh chấp có quyền không thi hành quyết định của trọng tài. Thế giới mất tin tưởng vào ICJ, nhất là từ khi xảy ra 2 vụ án sau đây, đều liên quan tới Mỹ:

-Vụ án 1: “U.S. v. Iran” (1980). Sau “cách mạng” 1979 ở Iran, bang giao Mỹ-Iran căng thẳng. Đầu 1980, Iran bắt nhân viên ngoại giao Mỹ ở Iran làm con tin. Mỹ kiện Iran trước ICJ [dù Mỹ không công nhận ICJ]. ICJ ra phán quyết buộc Iran thả con tin Mỹ, Iran từ chối không thi hành phán quyết của ICJ. Mỹ bó tay và sau đó phải tìm giải pháp bằng con đường ngoại giao thương thuyết.

-Vụ án 2: “Nicaragua v. U.S.” (1984). Năm 1984, Nicaragua kiện Mỹ trước ICJ đòi bồi thường thiệt hại vì CIA [Mỹ] đã yểm trợ vũ khí, tiền bạc, kích động các cuộc nổi loạn và tổ chức gài mìn ở các hải cảng của Nicaragua. ICJ ra phán quyết chấp thuận yêu cầu của Nicaragua và Mỹ không thi hành trước sự chỉ trích dữ dội của nhiều nước trên thế giới].

[7] Theo Justice Sans Frontières, 6 nước chống ICC là Trung Cộng, Ấn, Pakistan, Indonesia, Iraq và Việt Nam; 21 nước không có ý kiến và 12 nước không bỏ phiếu. Trung Cộng sợ sẽ bị kiện vì vấn đề Tây Tạng. Ấn Độ và Pakistan chống vì không thành công khi đòi ghi vào Quy Chế Rome “có vũ khí nguyên tử” là “tội ác nghiêm trọng.” Indonesia có vấn đề Đông Timor, Iraq có vấn đề người Kurk và Việt-Cộng thì lu bù vấn đề. Mỹ lúc đầu chống, sau nghe khuyến cáo của cựu TT J. Carter đã ký Quy Chế Rome vào cuối nhiệm kỳ của TT Clinton.

Theo Hiến Pháp Mỹ, các hiệp ước quan trọng do Tổng Thống [hay đại diện] ký với nước ngoài phải được Thượng Viện chấp thuận [với tỷ lệ 2/3] mới có giá trị. Đầu năm 2001, hành pháp Bush tuyên bố: “Nó (Quy Chế Rome) sẽ không bao giờ được đưa ra trước Thượng Viện để phê chuẩn” và phía lập pháp thì tìm mọi cách để ngăn chặn việc thiết lập ICC với lý do “bảo vệ quân nhân Mỹ gìn giữ hoà bình có mặt khắp thế giới.”

Hạ Viện [Cộng Hoà] Mỹ còn thông qua luật “American Service Members’ Protection Act” nhằm ngăn chặn việc Mỹ tham dự vào hoạt động của ICC, cản trở các nước phê chuẩn Quy Chế Rome và ủy quyền cho hành pháp được xử dụng các biện pháp cần thiết để can thiệp cho công dân Mỹ hay đồng minh bị giam giữ bởi ICC.

Thật ra, lý do “bênh vực các quân nhân Mỹ” hoàn toàn không có cơ sở. Vì Quy Chế Rome minh định rõ ràng ICC sẽ “không nhận xét xử khi Toà Án Quốc Gia liên hệ đang điều tra hoặc truy tố, trừ khi Toà Án Quốc Gia liên hệ không chịu điều tra hay truy tố các tội ác hay truy tố nhưng trừng phạt lấy lệ.”

[8] “Bush appears to be removing the signature of the US from the treaty creating it. Even so, no country is deemed to be outside the court’s jurisdiction. In theory, any American, from a high-ranking official like the Secretary of Defense or State to a soldier in the field, could be accused of a crime.” [War Crimes Tribunal Established, Barbara Crossette [NY Times], San Jose Mercury News, April 12, 2002]

Ls. Nguyễn Thành

Tài Liệu Tham Khảo
-Rome Statute of the International Criminal Court [ICC], United Nations, Original: English and French.
-Ratify or Reject: Examining the US’ Opposition to the ICC, Matthew A. Barett, 2000.
-International Human Rights law challenges to the new ICC, Yale Journal of International Law, 2001.
-The American Political Dictionary, Plano and Greenberg, Ninth and Tenth Edition.
-Vụ án Pinochet làm rung chuyển luật pháp quốc tế, Nguyễn Văn Thành, VN nhật báo San Jose, 5/8/2000.
________________________________________________________________
Ls TRẦN THANH HIỆP : CẦN XÉT XỬ TÀN SÁT TẾT MẬU THÂN HUẾ

LTS. Luật sư Trần Thanh Hiệp là chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris. Ông viết bài dưới đây theo lời yêu cầu của Ngày Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm CSVN tổng tấn công và tàn sát 6000 dân lành tại Huế hồi Tết Mậu Thân, 1968.

Đêm mồng một Tết năm Mậu Thân (30-01-1968), 12 ngàn quân cộng sản đã nổ súng tấn công thành phố Huế, chiếm đế đô cũ của nhà Nguyễn trong 26 ngày.

1. Chiến dịch Đông Xuân, cửa ngõ đi vào tội ác.
Cuộc binh biến này là một trong những cao điểm của Chiến dịch Đông-Xuân, với một quân số gần 200 ngàn người gồm cả bộ đội chính qui lẫn du kích, chính ủy, cán bộ CS xâm nhập từ miền Bắc cũng như tuyển mộ tại chỗ, mà Hà Nội đã mở ra ở chiến trường miền Nam, vào ba năm cuối thập niên 1960, trong ý đồ tạo thế mạnh trên chiến trường để áp đảo trên bàn hội nghị nếu buộc phải đi vào cuộc thương lượng.

Ngày thứ 27, những tay súng xâm lăng Huế đã bị quân lực VNCH cùng với quân đội Đồng minh đánh bật ra khỏi những nơi họ chiếm đóng. Các trận đánh đã chấm dứt, một trong những việc khẩn cấp trong khi chờ đợi cuộc sống bình thường trở lại trên miền sông Hương núi Ngự là lo kiểm điểm thương vong. Đã không có cuộc kiểm tra dân chúng thật sự nào được thực hiện. Nhưng đại cương, chỉ biết rằng tính tới tháng 03-1968, theo thống kê của nhà cầm quyền thì có 1.900 dân thường được đưa vào bệnh viện vì thương tích chiến tranh và khoảng 5.800 người bị CS bắt đi mất tích. Và cho đến bây giờ, tất cả những người này coi như đã chết. Nhưng họ đã chết như thế nào?

Đã có lúc người ta tưởng rằng đó là những bí mật đã bị chôn vùi dưới lòng đất và trước sau gì thì thời gian cũng sẽ xóa hết vết tích thôi. Nhưng không ngờ rằng chẳng bao lâu sau sự thật đã dần dần hé lộ. Và một loạt tội ác ghê rợn vì mức độ dã man làm chỗi dậy lương tâm loài người lần lượt được vạch trần ra trước ánh sáng. Vô số tử thi được tìm thấy rải rác, hay tập trung trong những hố chôn tập thể, ở những vùng chung quanh Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Bốn mươi năm đã trôi qua. Không biết có bao nhiêu người nay còn muốn nhắc lại câu chuyện Tổng công kích cách mạng của cộng sản tại Huế, còn đoái hoài tới những kẻ xấu số đã mất đi mạng sống của mình một cách thảm thương. Đành rằng trước những tội ác đảo lộn luân thường đạo lý của Phát xít Quốc xã và Cộng sản toàn trị, thế kỷ XX đã bị tố cáo trước công luận thế giới là man rợ xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Nhưng công luận đã không đáp ứng được nhu cầu công lý. Có gì để đền bồi cho thân nhân hàng ngàn người xấu số đã chết tức tưởi dưới bàn tay khát máu của cộng sản tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân? Và những kẻ sát nhân đã phải trả lời ra sao về tội ác của chúng? Có thể đành tâm im lặng nhìn cuộc sống thị phi lẫn lộn kéo dài vô tận được không?

Một người Mỹ từng có nhiều công trình nghiên cứu thâm sâu về những người Cộng sản Việt Nam, ông Douglas Pike, khi lập một hồ sơ về biến cố Tết Mậu Thân đã viết rằng: “Ngoài tiếng thở dài cay đắng, người dân sẽ nói cho quí vị hay những gì về Huế mà thế giới đã không biết tới, và nếu có biết, họ cũng chẳng quan tâm đến những gì ở Huế sau 27 ngày gọi là “giải phóng Thừa Thiên” (…). Những gì xảy ra ở Huế làm cho những ai còn là người văn minh trên địa cầu nầy phải dành nhiều phút giây tĩnh tâm để tư duy về những điều đã được khắc ghi, cùng với những tai họa khủng khiếp khác về những hành động dã man của người đối với người sẽ không bao giờ quên được và trở thành một dấu ấn sâu sắc trong dòng lịch sử nhân loại” (lời dịch của Tuệ Chương).

Bốn mươi năm sau. Chúng ta, những người không Cộng sản còn nhớ được những gì và suy nghĩ gì về cuộc giết người hàng loạt này ?

2. Bộ mặt ghê rợn của ý thức hệ.

Một người dân Huế nhớ lại: “Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau Tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6,000 người. Có nhà báo ước tính 5,000. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu”.

Nhiều đợt kiếm xác làm liên tưởng tới cảnh hành hình trong ngục của Diêm Vương. Các nạn nhân tay bị trói bằng dây thép gai buộc ra sau lưng, miệng nhét giẻ, thân xác không còn nguyên vẹn nhưng lại không có dấu vết bị thương. Chắc hẳn những người này đã bị chôn sống.

Nơi tìm thấy nhiều xác nạn nhân nhất là ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá Đông và Xuân Ổ; đây là vùng đồi cát liên tiếp nhau, nhiều đụn cỏ, ở gần biển Đông. Cách xa cách vùng đầm nước mặn, đây là nơi thuận tiện để chôn tập thể. Đã có hơn 800 người được phát giác ở khu này. Các nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10 hoặc 12 người, sắp hàng bên cạnh những cái hố do dân địa phương đào, sau đó bị bắn bằng súng máy mà nhờ có vỏ đạn bên cạnh hố chôn nên đoán là do Nga sản xuất. Một địa điểm khác nữa là ở quận Nam Hòa, chỗ gọi là khe Đá Mài, hay là nơi người dân Phủ Cam bị giết, tìm thấy hôm 19-9-1969. Cán binh Cộng Sản đào ngũ khai với viên chức tình báo thuộc đoàn Không Kỵ 101 của Hoa Kỳ rằng họ đã chứng kiến việc giết hàng trăm người ở khe Đá Mài, cách Huế 10 dặm về phía nam vào tháng 02-1968. Khu nầy hoang vu, không có dân cư, khó đến được, một toán tìm kiếm đã tới được khe Đá Mài báo cáo rằng trong dòng suối có rất nhiều đống xương người chồng chất lên nhau.

Nhờ những tin tức gom góp được, người ta tạm phỏng đoán những gì xảy ra ở khe Đá Mài. Tại khu Phủ Cam, nơi có khoảng 40 ngàn dân, những người theo đạo Thiên Chúa chiếm 3/4 dân số thành phố. Hôm mồng 5 Tết, dân khu này chạy vào nhà thờ tránh súng đạn như ở Việt Nam người dân thường làm. Thực ra, nhiều người trong số đó không phải là người có đạo Thiên Chúa.

Cán bộ Cộng sản vào nhà thờ bắt đi khoảng 400 người, một số theo danh sách có sẵn còn một số theo nhân dạng mà bắt (giàu có, sang trọng, trung niên v.v…). Cộng Sản cho biết họ phải vào vùng giải phóng để học tập chính trị trong vòng ba ngày, sau đó, sẽ được tha về. Họ bị đưa đi 9 cây số tới một ngôi chùa nơi Cộng sản đặt bộ Chỉ huy. Hai chục người được gọi ra trước cái gọi là “tòa án cách mạng”, bị tố cáo là có tội, bị hành quyết và chôn ngay trong sân chùa. Những người còn lại được đưa qua sông và giao cho đơn vị Cộng sản địa phương. Bảy ngày sau đó, không rõ số lượng bao nhiêu, cả người bắt và người bị bắt đã di chuyển về một vùng quê. Và để không cho ai thấy, người bị bắt bị dẫn đến những vùng núi non lởm chởm nhất miền Trung Việt Nam, tới khe Đá Mài. Tại đây họ bị bắn hay bị đập đầu, xác bị đạp xuống lòng khe.

Ông Nguyễn Phúc Liên Thành, nguyên Phó Trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt tại Thừa Thiên nhớ lại: “Sau khi lập chính quyền thì Việt cộng bắt đầu cuộc thảm sát. Đầu tiên họ kêu gọi quân nhân cán chính trong thành phố Huế ra trình diện. Sau khi trình diện thì được cấp giấy, có quyền đi lại, coi như giấy thông hành. Những người này về nói lại với những người khác, người kế tiếp ra trình diện. Đến lần thứ ba thì họ yêu cầu tất cả những ai đã trình diện lần một và lần hai ra trình diện lại. Đây là lần quyết định, và cuộc thảm sát đã diễn ra!”

Ông Philip W. Manhard, cố vấn Mỹ tại Huế bị bắt làm tù binh và bị giam giữ tại một trại tù binh ở ngòi Bắc cho đến năm 1973, đã xác nhận rằng khi phải rút khỏi thành phố Huế, bộ đội cộng sản đã hạ sát tất cả những ai không chịu đi theo, cũng như những người quá già hoặc quá ít tuổi gây trở ngại cho cuộc rút quân này.

Phải được thúc đẩy bởi những động cơ tâm lý như thế nào mới có thể giết người một cách vô cảm và phi nhân tính, theo đuổi ý đồ diệt chủng như vậy! Tìm cách giải nghĩa cuộc tàn sát Tết Mậu Thân dưới góc độ nhìn vấn đề như thế thì chỉ có một câu trả lời độc nhất, đó là sự thể hiện cụ thể nhất của hệ thống giáo điều ý thức hệ Cộng sản với căm hờn giai cấp, với vai trò lịch sử tự phong của lớp người tự nhận là vô sản, với chủ trương đảng trị độc tôn, toàn trị phi nhân quyền v.v… cho phép người cộng sản -như, đúng ra hơn cả Thượng Đế- có đủ mọi thứ quyền trên cõi đời này, kể cả quyền sinh quyền sát. Bởi vậy cuộc tàn sát đầu Xuân Mậu Thân vẫn còn là một vấn đề mà các thế hệ nói tiếp cần phải phân tích để thanh toán.

Khoảng cách bốn mươi năm đã mang lại nhiều thay đổi từ tư tưởng đến thực tế đất nước, góp phẩn làm hiển lộ sự thật. Nếu vào thời điểm năm 1968, những người Cộng sản có được sự thản nhiên lạnh lùng để hạ sát một cách man rợ hàng ngàn đồng bào là tại vì lương tâm con người trong họ đã bị tham vọng quyền lực, quyền lợi che lấp. Phải bằng mọi giá loại trừ bất cứ trở ngại nào trên buớc đường họ cướp quyền để cầm quyền. Nhưng sau hơn 30 năm chiếm được trọn quyền trong cả nước, những người cộng sản qua suy nghiệm bản thân chắc đã không thể không nhận rõ được thực chất vô đạo, dối trá, man rợ, lạc hậu của ý thức hệ của mình. Họ biết rằng không thể mượn những ánh hào quang giả trá của chủ nghĩa để biện minh cho hành động giết người của họ. Nên họ đã ra sức che giấu tội phạm bằng những luận điệu, hình thức lố bịch tự ca ngợi chiến thắng, tạo nên những căng thẳng tâm lý, khơi sâu thêm hận thù trong xã hội. Nhưng họ che giấu bằng thái độ phi luân lý, bất cần tốt xấu, sai đúng, khinh miệt mạng sống con người. Mặc dầu trước công luận, thái độ này có chỗ dựa là chính quyền nhưng nó không thể làm nền tảng đạo lý cho môt nước Việt Nam dân chủ lương thiện được. Hồ sơ cuộc giết người hàng loạt Tết Mậu Thân vì vậy chưa thể xếp lại mà còn phải đưa ra trước công lý.

3. Đường thẳng và những ngõ ngách để đi tìm công lý.

Chữ công lý có hai nghĩa. Hiểu một cách thông thường thì công lý là công bằng, hợp với lẽ phải, trái phải, công tội phân minh v.v… Công lý cho người dân cảm giác công chính, thỏa đáng, chính đáng. Nhưng điều này không phải tự nhiên đã có sẵn trong xã hội, cần phải thực hiện mới có và công lý chỉ thực hiện thông qua nhà cầm quyền. Chính quyền phải có những định chế để đáp ứng nhu cầu công lý của dân. Do đó, chữ công lý còn có nhiều nghĩa chuyên môn mang tính chất triết học, pháp lý. Công lý về mặt chuyên môn, và hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là một phạm trù luân lý-chính trị-luật học, biểu hiện một trạng thái quan hệ trong đó con người được đối xử công bình, nghĩa là bình đẳng với nhau trước pháp luật, trong sự tương kính, phù hợp với hệ thống giá trị được coi như tiêu chuẩn của cuộc sống chung. Công lý vì thế là đạo đức hàng đầu của chính quyền, là lẽ chính thống của một một chế độ, là diện mạo của văn minh.

Cho đến cuối thế kỷ XX, trên đại thể, công lý là giá trị quốc gia. Nước nào có công lý của nước ấy, tuy rằng cũng phải qui chiếu vào cái hình bóng giá trị được gọi là công lý chung của nhân loại. Nhưng từ thập niên 1990 công lý chung này bắt đầu quá trình đột xuất dưới hình thức bào thai. Và đến năm 1998 thì nó chính thức ra đời ở thành phố Rome của nước Ý, dưới danh xưng Tòa Án Hình Sự Quốc Tế, có thể nói một tòa án hình sự đầu tiên của cả loài người. Như vậy là từ nay sẽ có hai nền công lý, đó là công lý quốc nội và công lý quốc tế. Đúng hơn, nên nói hai cách thực hiện công lý với những khác biệt từ hình thức đến nội dung. Việc nhận diện cho rõ những khác biệt này không đơn giản vì nó đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn. Nhưng điều mà mọi người nên tránh là đừng đồng hóa một cách máy móc hai thứ công lý này.
Câu hỏi thực tế được đặt ra là trong khuôn khổ hai nền công lý ấy, phải làm sao để xét xử vụ giết người hàng loạt Tết Mậu Thân?

Có hai con đường thẳng và một số ngõ ngách để đưa vụ tàn sát Tết Mậu Thân ra trước công lý. Hãy bàn về những con đường thẳng để chọn hoặc con đường quốc tế hoặc con đường quốc nội. Về mặt công lý quốc tế thì vụ tàn sát này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (TAHSQT). Thật vậy, những hành vi bắt người giết người và ý chí phạm tội của những thủ phạm cộng sản rõ ràng là những yếu tố cấu thành các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử (thuật ngữ luật học gọi là “thẩm quyền đối vật”, compétence ratione materiae) của cơ quan tài phán này, chiếu điều 6, 7 và 8 của Quy chế Rome 1998 thiết lập TAHS QT.

Với những đặc tính này, vụ tàn sát Tết Mậu Thân là những tội phạm quốc tế đích danh như diệt chủng, chống nhân loại và tội phạm chiến tranh. Nhưng điều trớ trêu là các tụng nhân Việt Nam lại không có tố quyền để khiếu kiện trước TAHSQT. Vì chiếu điều 11 của Qui chế kể trên, TAHSQT chi thụ lý để xử những viêc xảy ra sau khi Qui chế này bắt đầu có hiệu lực, nghĩa là năm 2001.

Hơn nữa trong mọi trường hợp, TAHSQT cũng không có hiệu lực đối với nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa vì nước này không ký tên vào Quy chế Rome 1998 nên không bị ràng buộc vào quy chế Rome.

Như vậy, con đường thẳng quốc tế đã bị tắc nghẽn, các tụng nhân Việt Nam chỉ còn trông vào ba ngõ ngách là các nước Tây Ban Nha, Bỉ và Hoa Kỳ là ba nước tự cho mình có thẩm quyền trên tòan cầu xét xử một số tội hình sự bất cứ ai phạm ở nước ngoài. Với điều kiện là thủ phạm phải có mặt trên ba nước này và nếu không có mặt thì sẽ được dẫn độ. Rốt cuộc cũng vẫn là những bước phiêu lưu mà kết quả cũng không hơn gì trường hợp không có tố quyền. Vì thủ phạm không dại gì tự mang thân vào vòng tù tội và yêu cầu dẫn độ cũng chẳng bao giờ được chấp thuận.

Còn đường thẳng công lý quốc nội thì sao? Theo lẽ, những tụng nhân Việt Nam có thể vô đơn nhờ tòa án quốc nội xét xử vụ tàn sát Tết Mậu Thân. Như tòa án ở Phnom Penh đang xử những người Khơ Me Đỏ về tội diệt chủng. Nhưng người dân Việt Nam cũng sẽ đành phải bó tay thôi. Đương nhiên phải vậy bởi lẽ Đảng cộng sản, Đảng đã gây ra tội ác diệt chủng Tết Mậu Thân, vẫn còn đang cầm quyền khác với trường hợp Khơ Me Đỏ đã mất quyền. Thân nhân các nạn nhân vụ tàn sát Tết Mậu Thân chắc chắn là không hy vọng gì thấy được tòa án của chế độ hiện hữu chấp đơn khiếu kiện để tự mình xét xử mình và trừng phạt mình. Vậy chỉ còn ngõ ngách là tụ họp để khiếu kiện ngoài đường phố, đòi hỏi nhà cầm quyền mở cuộc điều tra để truy cứu các thủ phạm trong cuộc diệt chủng Tết Mậu Thân, trừ phi chính quyền tại chức bị mất chức và chính quyền thay thế sẽ không theo đưổi chính sách cai trị diệt chủng cũ.

Nói tóm lại, trước mắt, đặt vấn đề tìm công lý cho những nạn nhân vụ giết người hàng loạt Tết Mậu Thân là đặt vấn đề thay đổi ở tận gốc những điều kiện thực hiện công lý để cho nước Việt Nam có thể thực sự hội nhập với nhân loại văn minh. Để tạo ra một không gian pháp lý mới trong đó pháp luật sẽ thay thế cho bạo lực thay vì chỉ giữ vai trò công cụ cho bạo lực. @@@

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s