dao Da Nam

Lý Kiến Trúc phỏng vấn hai nhà đối lập Hà Sỹ Phu và Mai Thái Lĩnh

Van Hoa Magazine

http://nhatbaovanhoa.com/D_1-2_2-68_4-915_5-10_6-1_17-16_14-2_15-2/#title2

Ảnh trên: Lý Kiến Trúc phỏng vấn ông Hà Sỹ Phu. Ảnh VH

Ảnh trên: Lý Kiến Trúc phỏng vấn ông Mai Thái Lĩnh. Ảnh VH

“Tư gia” ông bà Hà Sỹ Phu. Ảnh VH

(Phần 1+2)

Lời tòa soạn:

Hôm nay là ngày 5/5/2014, tôi Lý Kiến Trúc đại diện cho tờ Văn Hóa Magazine California hiện đang ngồi tại thành phố Đà Lạt, tôi hân hạnh gặp được nhà tranh đấu dân chủ Hà Sỹ Phu và nhà dân chủ phản biện Mai Thái Lĩnh.

Ông bà Hà Sỹ Phu đang tạm trú ở một căn nhà lụp xụp, có thể nói rất “nghèo nàn”, khuất dưới một con dốc. Hai ông bà tỏ ra rất ngạc nhiên khi gặp tôi. Nhưng khi đọc danh thiếp của tôi, ông mừng rỡ và ân cần mở cửa hàng rào mời vào.

Gọi là “nhà”, nhưng thật ra chỉ là cái mái tôn lụp xụp, “phòng khách” độ 4m2. Hai ông bà pha cốc trà thơm mời khách kèm theo dĩa mứt gừng.

Nhận xét đầu tiên của tôi gặp Hà Sỹ Phu là một ông già lụ khụ, mặc chiếc áo lạnh to chắc là cố che một thân thể gầy còm, ông già có đôi mắt sáng quắc, toát ra vẻ tự tin quyết liệt, quả không hổ danh với các loạt bài: “Dắt Tay Nhau Ði Dưới Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ (1988), Chia Tay Ý Thức Hệ (1995)”. Ông nhìn tôi có vẻ “dò xét” về một nhà báo hải ngoại chưa bao giờ đối diện, thỉnh thoảng ông nhìn ra ngoài ngõ, dường như để ý xem có ai “đứng ngồi” xa xa hay không! (Sau cuộc phỏng vấn, quả thật có hai viên CA bảo vệ chính trị đến hỏi thăm sức khỏe tôi!)

Nhận xét thứ hai về một người trong 4 nhân vật rất nổi tiếng không những ở Đà Lạt mà còn trên khắp thế giới, đã từng làm rung chuyển “bộ óc” bộ chính trị đảng cộng sản, đó là nhà nghiên cứu dân chủ – phản biện Mai Thái Lĩnh “để đời” với luận chứng:  “Thác Bản Giốc – Những bằng chứng lịch sử”. Gần đây, ông Mai Thái Lĩnh đã tạo ra cuộc tranh biện gắt gao với ông Trần Công Trục, nguyên trưởng ban biên giới Việt Nam.

Để “cướp” thời gian, tôi vào chuyện ngay với hai ông:

Kính chào nhà dân chủ Hà Sĩ Phu, kính chào nhà tranh đấu Mai Thái Lĩnh, tôi rất hân hạnh được gặp được hai quý vị trong “Tứ Đại Hùng Tâm Đà Lạt”, mà bấy lâu nay ở hải ngoại chúng tôi ngưỡng mộ, đó là các ông: Hà Sỹ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự, và Bùi Minh Quốc. Trong thời gian ngắn ngủi này, tôi chưa thể gặp được hai vị Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc, rất may mắn gặp được hai ông trước, hai ông vui lòng cho chúng tôi thực hiện một cuộc mạn đàm.

– LKT: Kính thưa ông Mai Thái Lĩnh xin ông có thể nói sơ qua quá trình hoạt động của ông và nơi ông cư ngụ khá lâu năm ở Đà Lạt được không ạ?

– MAI THÁI LĨNH: Tôi không phải là sinh ra tại Đà Lạt, bố tôi là người Thanh Hóa, mẹ tôi là người Hà Tĩnh, vào trong Cao Nguyên này vào khoảng năm 1942-1943, và khi mẹ tôi mang thai tôi vào năm 1946, thì chưa sinh ra tôi thì bố tôi tham gia Việt Minh ở tại Đồng Nghê Thượng tức là tại vùng Di Linh cách đây khoảng 80Km. Sau đó khi từ Bắc trở lại thì bố tôi và tất cả những người trong ủy ban kháng chiến phải rút ra ngoài rừng về tới vùng Bình Thuận, và từ đó coi như là mất liên lạc. Khi sinh ra tôi thì tôi không gặp bố tôi, mãi đến năm sau 75 tôi mới gặp lại, mẹ tôi sau đó tái giá với một người khác và tôi có một số em cùng sống với tôi từ nhỏ đến lớn, và hiện nay coi như là ở hải ngoại toàn bộ, 3 người em ở Canada, 2 người em ở Hoa Kỳ, coi như ở đây còn mình tôi thôi, và những kỷ niệm đối với các em tôi sống từ nhỏ tới lớn là tôi ở Di Linh sống đến năm 14 tuổi tức là sau khi học hết cấp 2 thì tôi mới lên Đà Lạt và từ năm 60 trở đi thì gia đình tôi chuyển lên Đà Lạt, nên tôi không phải sinh ra ở Đà Lạt, nhưng thời gian cư trú ở Đà Lạt và có lẽ đến cuối đời có lẽ là nơi mà tôi ở lâu nhất, cho nên tôi cũng coi như đây là một cái quê hương sâm đậm ngoài cái nơi mà tôi sinh sống ở thời thơ ấu là ở Di Linh.

– LKT: Vâng thì thưa ông, trước đây thời sinh viên ông cũng đã có những hoạt động tranh đấu ở Sài Gòn phải không ạ?

– MAI THÁI LĨNH: Vâng, trước kia tôi không có tham gia tranh đấu, trước kia khi tôi về học ở Sài Gòn thì tôi tham gia một số hoạt động xã hội và từ khoảng năm 65 thì tôi tham gia vào công tác xã hội và tôi là một trong những người cùng với anh Nguyễn Đức Quang và Đinh Gia Lập sáng lập ra phong trào Du Ca Việt Nam. Thế nhưng tới năm những cái thời sự những cái diễn biến ở miền nam lúc bấy giờ nó rất là sôi động, và tôi bị lôi kéo giữa 2 cái luồng, trong đó đặc biệt có một số anh em bạn bè bị ảnh hưởng bởi phong trào phản chiến, lúc đó tôi cũng mong muốn có một đất nước hòa bình, thống nhất, và một phần cũng do cái nguồn gốc của mình, rồi cũng do một số ảnh hưởng từ trong các cái trường đại học mà tôi tham gia từ các giáo sư học ở Pháp về, nên có xu hướng phản chiến và bây giờ người ta gọi là lực lượng thứ 3, tất nhiên bây giờ nhìn lại thì có những điếu bồng bột, sốc nổi, những cái mình suy nghĩ không chín chắn, hoặc là cái con đường thứ 3 nó có một cái gì mơ hồ nó không có cái đường lối rõ ràng, nó dẫn đến những cái thiệt hại cho dân tộc, nhưng cái thời tuổi trẻ thì tôi bị lôi cuốn như thế, và đến năm 69 tôi tốt nghiệp cử nhân, thì đến khoảng năm 70-71 tôi giảng dạy tại đại học Văn Khoa Đà Lạt, thì chính trong cái thời gian đó một số anh em một số người trong cái phong trào đấu tranh đó và bên phía bên đảng Cộng Sản biết cái nguồn gốc của tôi như thế cho nên là tìm cách móc nối và sau đó đến năm 73 thì tôi vào Thủ Đức, nhưng tôi không có bảng đơn vị và sau đó tôi bỏ ngũ, và sau hiệp định Paris một thời gian tôi thoát ly ra ngoài rừng và ở đó cho đến năm 75 tôi trở về.

Từ năm 75 đó tôi là cử nhân giáo khoa triết học mà cử nhân giáo khoa triết học đối với chế độ này là con số 0, tức là họ cho rằng khi anh học triết học là anh đã bị nhiễm độc, anh bị nhiễm độc về mặt tư tưởng, cho nên, là những người mà tốt nghiệp Cử nhân Triết học thì nhìều người giống như tôi chỉ được chuyển xuống dạy cấp 2 một cái môn khác chẳng hạn, như ông thầy tôi được chuyển sang dạy môn Pháp văn, tức là họ không cho dạy lại môn triết học, thì trong cái hoàn cảnh đó thì tôi đưa về một cái trường trung học làm phó Hiệu trưởng, nhưng lúc bấy giờ những người trong nghành giáo dục nhiều người họ không bằng lòng họ cho rằng anh này là cử nhân giáo khoa triết học mà bây giờ ảnh làm phó hiệu trưởng thì sao ảnh làm được. Thì một người lãnh đạo ở đây họ mới nói với tôi phải hợp lý hóa tôi vào cái chuyện đó cho nên cho đưa tôi đi học trường đảng, tức là tôi lại được đi học triết học Mác Lênin một lần nữa để hợp pháp hóa tôi trở thành một người đậu bằng cử nhân. Hơn một năm rưỡi đi học về trường đảng, sau đó tôi còn một số mùa hè học thêm vài ba tháng gì đó thì họ mới cấp cho tôi một cái bằng gọi là Đại học sư phạm môn Chính trị; vậy là tôi tốt nghiệp 2 cái bằng một cái bằng là Cử nhân Triết học của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và bằng thứ 2 là bằng Đại học Sư phạm Chính trị của chế độ Cộng Sản.

Tôi công tác trong nghành giáo dục cho đến năm 1988, và tôi thấy không có kết quả. Lúc bấy giờ do một số bài báo một số ý kiến của tôi rất đụng chạm, tôi cảm thấy mình làm việc nó không có tác dụng nữa, tôi xin lãnh đạo không làm lãnh đạo nữa. Nghành giáo dục họ giải quyết bằng cách anh không làm lãnh đạo thì anh cũng không thể ở trường này được, anh ở đây thì không ai lãnh đạo được anh, thì tôi mới chuyển qua trường sư phạm, lúc bấy giờ thì tôi có cái đề nghị của thành phố về thành phố làm việc, sau tôi ứng cử Hội đồng Nhân dân Thành phố và tôi trúng chức phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố, tôi làm hết cái khóa đến khoảng năm 89-94 thì tôi bỏ công việc, từ đó tới giờ là một thường dân. Đó là tôi tóm tắt có lẽ hơi dòng dài.

–  LKT:Vâng, thưa ông Mai Thái Lĩnh, xét về bên ngoài thôi thì ông có vóc dáng như một nghệ sĩ, chúng tôi cũng được biết ông là người ưa thích về phong trào Du Ca, hình như là ban Trầm Ca là ban do ông sáng lập có phải không?

– MTL: Tôi không có sáng lập ra phong trào đó, nhưng mà thật ra thời gian ở Sài Gòn tôi chơi với một số anh bạn trong đó có anh Nguyễn Đức Quang, anh Hoàng Kim Châu, anh Trần Trọng Thảo và tôi là 4-5 anh em đó cùng với cô Phương Oanh, lúc đầu thì chỉ có anh em Trần Hưng Đạo thôi tức là ban Trầm Ca, cái ban Trầm Ca đó là do anh Quang và chúng tôi, đúng là anh Quang là đầu tàu, bọn tôi âm nhạc chỉ biết đàn hát cho vui thôi nhạc sĩ duy nhất là anh Nguyễn Đức Quang. Chúng tôi thành lập ban Trầm Ca, sau đó chị Phương Oanh ở bên trường âm nhạc mới vào tham gia sau đó mới trở thành một ban Trầm Ca, cái ban Trầm Ca đó chính là tiền thân để sau này thành ra phong trào Du Ca, đó là cái sở thích thứ 2.

– LKT: Vâng xin cám ơn vài lời của ông Mai Thái Lĩnh, chúng tôi xin được tiếp chuyện với nhà khoa học, nhà học giả Hà Sĩ Phu; kính chào ông Hà Sĩ Phu.

– HÀ SỸ PHU: Vâng xin kính chào ông Lý Kiến Trúc.

– LKT: Xin cám ơn ông, thưa ông, được biết ông là người được hải ngoại đặc biệt là giới truyền thông báo chí cũng như giới văn học rất ưa chuộng những tác phẩm của ông. Một số tác phẩm của ông gây rúng động rất lớn như bài viết “Dắt Tay Nhau Ði Dưới Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ), Chia Tay Ý Thức Hệ”, về sau này ông có thêm một số bài nữa chúng tôi đã được đọc trên trang bauxit, và đặc biệt nhất là vào những dip Tết, ông hay có những câu đối Tết, vậy thưa ông, ông có thể cho biết câu đối Tết mới nhất của năm Giáp Ngọ là câu gì không ạ?

– HÀ SỸ PHU: Thưa anh Lý Kiến Trúc, tôi thì trước khi tôi học tiểu học tức là trước khi học quốc ngữ là tôi ở nhà được ông cụ nhà tôi là thầy đồ dạy chữ Nho. Trong chữ Nho nó có một cái gần như là một cái dẫn xuất của cái học tiếng nghĩa là làm câu đối văn chương nói chung và trong đó có câu đối, thì tôi được lĩnh cái hồn đó, nó nhập vào mình lúc nào ấy, cho nên trước những vấn đề lôi cuốn tình cảm, lôi cuốn suy tư của mình thì tôi lại suy tư bằng câu đối. Thì chẳng biết từ bao giờ nó quen cứ mỗi một năm anh em cứ giục. Có năm tôi chưa kịp làm thì anh em lại giục sao chưa thấy câu đối của ông năm nay, thế năm nay thì câu đối của tôi là câu đối thế sự, chắc anh em cũng biết nhiều, nhưng mà tôi xin nói câu đối mới nhất cảu tôi năm nay là năm Giáp Ngọ là năm con ngựa, so với những năm ngoái thì năm nay thì có cái đặc điểm là thứ nhất tôi tiên đoán năm 2014 này là một năm có những nét mới về cái chuyển động của xã hội Việt Nam. Cái chuyển động đó tôi linh cảm được ngay từ những ngày Tết, mà lúc đó nó chưa có gì sôi động như là tháng 4 tháng 5 này đâu, nhưng lúc đó tôi cảm thấy là năm nay có vẻ như không có chuyển động gì mới trong cái gọi là Dân Chủ hóa Xã Hội, thế thì trước đây chúng tôi cũng đã bộc lộ rất nhiều tư tưởng rồi, tôi lấy ví dụ như là tôi cho rằng nguyên nhân của mọi bê bối của xã hội Việt Nam hiện nay là do chúng ta đã chọn nhầm một con đường để giải phóng để xây dựng đất nước, chọn chủ nghĩa Mác thì quá sai, bởi vì nó phi khoa học hoàn toàn, nó ảo tưởng, nó chỉ để thích thôi, nó lôi cuốn những người mà chưa hiểu biết gì bao nhiêu, chứ còn đối với những người đã rất hiểu biết thì người ta biết ngay đó là cái không chấp nhận được.

Cho nên cái khối G7 đại diện cho tư duy văn minh nhất đó, có thấy Cộng Sản đâu, vì thế cho nên tôi cho rằng tôi đem cái tri thức của tôi cày sới vào cái gốc đó, tức là ta chọn nhầm đường, nhưng mà năm nay có cái mới là mọi khi tôi nói là nói đến chũ nghĩa, dám nói đến bộ máy, còn một cái trung tâm cuối cùng mà những người dân chủ ở trong nước trong những năm trước đây chưa dám động đến cái lô cốt cuối cùng để làm điểm tựa cuối cùng cho cái lý thuyết Cộng Sản là ông cụ Hồ. Bởi vì hiện nay người ta thầy cái điểm tựa cái thần tượng là ông Mác chắc khó đứng rồi, bởi bị cả thế giới công kích là phi khoa học, người ta bảo lịch sử vứt vào sọt rác mà. Thì xã hội lấy ông Hồ thay, thì người ta gọi đó là chia ly cuối cùng của người ta, những người dân chủ kể cả những người đã biết cái gốc thì cái thần tượng cũng không là gì cả, nhưng mà kê nốt ra cái điểm cuối cùng để có thể ngồi được với nhau, hoặc có thể tồn tại để mà tiếp tục phát huy tác dụng, cho nên người ta chừa lại cái đó.

Nhưng tôi tiên đoán trong cái năm 2014 thì ngay cả cái cứ điểm cuối cùng đó cũng không kiên được nữa, vậy câu đối của tôi năm nay có đến 3-4 câu là để tấn công vào cái thần tượng cuối cùng đó, đấy là một cái mới của câu đối năm nay. Đặc điểm thứ 2 là mỗi lần tôi làm câu đối thì thường có vế xuất đối để anh em trong ngoài xướng họa với nhau cho vui, thì trong những câu xướng họa năm nay có một câu mang được cái hồn của người xuất đối, tức là muốn phủ định, các vị ở đây các vị được gọi là đảng viên đấy vẫn bảo tôi là quá triệt để, cực đoan đấy, là vì tôi hiểu cái nguyên nhân nó là tận cái gốc, tôi xin nói lại là cái trang Ba Xàm là cái trang chủ yếu vế chính trị, kinh tế, họ ít đi về văn học, đặc biệt là câu đối là cái văn học cổ thì ít nói lắm, nhưng riêng câu đối này thì chính trên Ba Xàm tôi rất bất ngờ là đã đưa nguyên văn, và 2 câu đối có nội dung cụ thể, một câu của tôi và một câu đối lại của một nhân vật tên là Mai Xuân Hương, tôi không biết tên thật là gì chắc đây là bút danh, tôi xin đọc câu đối để hầu anh Lý Kiến Trúc.

Đối ra của tôi là thế này “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp đáng ghi vào lịch sử“. Có một cái tích, là anh Đỗ Hữu Ca có chỉ huy một cái trận dùng cả quân đội lẫn công an đánh vào dân, và anh ấy bố trí mọi thứ y như một trận đánh địch vậy, và cuối cùng anh ấy bảo đây là một trận đánh đẹp và đáng ghi vào sách, thì tôi nhại luôn câu đó, nhưng câu của tôi đề là “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp đáng ghi vào lịch sử”, bởi vì tôi nghĩ chiến công của đảng Cộng Sản Việt Nam ấy thì có chuyện đánh Pháp là chuyện nhỏ, chuyện đánh Mỹ thì không đâu vào đâu, trận đánh Trung Quốc thì đánh xong lại phải xin lỗi cũng không phải là chiến công gì ghê gớm lắm, chỉ duy cái chiến công mà tôi cho là chiến công to nhất là đánh vào chính dân tộc Việt Nam, làm cho mất tất cả những ưu điểm, dân tộc nào cũng có phần ưu phần nhược, nhưng mà đặc biệt với thể chế Cộng Sản thì những nhược điểm lại được khuếch đại lên, những ưu điểm thì lại bị tiêu mòn đi, có bao giờ dân tộc Việt Nam một dân tộc rất nhân ái, mà tại sao giờ thú tính lại ghê thế, giết nhau như bỡn, ngày nào cũng có hàng chục trận giết nhau, hay là một dân tộc rất yêu nước thế mà bây giờ cứ sợ nói yêu nước lại run lên là phải giun giấy, y như là đi ăn trộm. Tóm lại ai đã đánh cho dân tộc Việt Nam mất hết cả những cái truyền thống tốt đẹp đó, việc này trước đây Pháp 80 năm đô hộ không đồng hóa được mình, không làm biết mất cái chất dân tộc, thằng Tàu một nghìn năm đô hộ Việt Nam không làm mất được cái chất dân tộc, thế mà chỉ có mỗi mấy chục năm cai trị của đảng Cộng Sản mà làm cho mất được đến tận gốc, chiêu này tôi xin dùng chữ của ông Dương Trung Quốc là “chúng ta ngày nay đã bị mất gốc hoàn toàn”. Tôi cho rằng đánh được cho dân tộc Việt Nam mất gốc hoàn toàn thì đấy là chiến công đáng ghi vào sử sách nhất và rõ ràng nhất không ai có thể cãi được là của đảng, cái câu ấy thì tưởng đã là câu ghê gớm, nhưng mà tôi nghĩ cái câu của người hưởng ứng đối cũng sắc sảo không kém, anh ấy đối rằng “Tiêu vì chiêu bài giải phóng“, tiêu tức là chết ấy, vì cái chiêu bài giải phóng miền nam, giải phóng miền nam thực ra là một cái miền bắc làm cho chia phân minh bản, lại đánh vào cái anh miền nam là cái anh ở trong hệ thống dù sao cùng là dân chủ sơ khai nó cũng là văn minh bình thường của thế giới, tóm lại là mốt của cái anh văn minh kém lại đòi giải phóng cho một cái anh văn minh hơn thì chính thế mà chết, cho nên “Tiêu vì chiêu bài giải phóng”.

Ý kiến nữa thứ 2 của vế đối này mới ác này: “Lính đánh thuê sao vậy đến anh hùng”. Lấy chữ “lính đánh thuê” để đối với chữ “trận đánh đẹp”, thế thì câu này muốn nói rằng mỗi cuộc chiến tranh của ta chẳng qua là đánh thuê, đánh thuê cho Liên xô, đánh thuê cho trung quốc, thì chính ông Lê Duẫn đã công nhận rồi, ông ấy nói là ta đánh đây là đánh cho liên xô, Trung quốc, (đánh thuê cho Mỹ), nhưng có một điều mà ít người nghĩ tới là cả dân tộc mình đánh thuê cho đảng Cộng Sản Việt Nam, bởi vì sau trận đánh đó bỏ rất nhiều sinh mệnh, tài sản, công lao, thì thật ra chiến công quả có cái gì là đảng giữ hết chứ dân được gì đâu, có mấy cái ghế của 14 ông Vua và một tập đoàn lợi ích nhóm, tóm lại là nhân dân lại thành lính đánh thuê với giá rất rẻ cho đảng, thì tôi rằng đã gọi là lính đánh thuê thì không thể gọi là anh hùng, có cái bình luận rất ác là bao nhiêu anh hùng chiến sĩ suốt từ năm 1930 cho đến bây giờ bao nhiêu nghĩa trang, bao nhiêu danh hiệu cuối cùng thành vô nghĩa cả, tôi đọc mà tôi thấy giật mình, thế thì tôi chắc rằng cũng có nhiều đọc giả cũng cảm nhận được cái tinh thần đó.

– LKT: Vâng xin cám ơn ông Hà Sĩ Phu, thưa ông, ông là một học giả một nhà nghiên cứu một nhà trí thức xuất thân ở miền Bắc miền đất của xã hội chủ nghĩa, thì thưa ông ông đã vào miền Nam từ năm rồi ạ?

– HSP: Tôi vào miền Nam này cuối năm 1983 đầu 1984, lúc ấy tôi đang nghiên cứu viên của Viện khoa học Việt Nam ở Hà Nội, nhưng vì tôi làm một cái để tài là nghiên cứu cấy mô cây Sâm và cây Tam thất là 2 cái cây mà đòi khí hậu lạnh, tôi đã làm xong thí nghiệm ở trong phòng thì nghiệm rồi, tôi muốn dùng cái điều kiện tự nhiên ôn đới để phát triển cái cây đó, cho nên tôi xin chuyển vào trung tâm khoa học Đà Lạt để làm tiếp cái đề tài của mình; nhưng mà về sau khi tôi vào rồi thì tình hình xã hội của mình thay đổi và những công trình nghiên cứu cơ bản đó cũng không làm được.

LKT: Thưa hai ông có lẽ đây là cái nhân duyên lạ lùng cho sự gặp gỡ ngày hôm nay giữa một người xuất thân ở miền bắc xã hội chủ nghĩa và một nhân vật trí thức của miền nam đã thoát ly đi theo cách mạng. Hai nhân vật có thể nói là 2 thái cực trong cái dòng chảy dân tộc Việt Nam. Vậy tại sao thưa 2 ông chúng ta có thể gặp nhau ở trong một cái thời điểm trong dòng chảy của dân tộc Việt Nam như thế này. Kính mời ông Mai Thái Lĩnh!

(Xem tiếp Phần 2)

Phần 2

– MAI THÁI LĨNH: Tôi gặp anh Hà Sĩ Phu vào một cái giai đoạn là mãi đến sau khi có cái gọi là đổi mới của đảng Cộng Sản tức là sau năm 86, và cũng có cái cơ duyên; thật ra lúc đó chúng tôi không cùng làm việc không cùng môi trường, tôi cũng không nhớ lần đầu tiên gặp vào lúc nào, nhưng mà có lẽ thông qua một cái sinh hoạt ở hội văn nghệ tỉnh Lâm Đồng, tôi và anh Hà Sĩ Phu cũng không phải là dân văn nghệ, đúng ra không phải nhà văn, nhà thơ; hội văn nghệ Lâm Đồng lúc bấy giờ được thành lập năm 87, anh Bùi Minh Quốc và anh Tiêu Dao Bảo Cự là Chủ tịch và Phó chủ tịch của cái hội văn nghệ lúc mới thành lập, tôi và anh Hà Sĩ Phu tham gia trong nhóm gọi là lý luận, thật ra trong tờ báo văn nghệ nó có một cái mảng lý luận mà thật ra thì tụi tôi cũng không phải chuyên về lý luận văn học, anh Hà Sĩ Phu tuy là dân sinh học nhưng lại thích viết về vấn đề triết, về vấn đề tư tưởng chính trị vân vân, tôi thiên về triết về tư tưởng chính trị, thế là bọn tôi trong cái dịp đó gặp nhau và sinh hoạt, nhưng mà tình cờ lúc đó cái hội văn nghệ Lâm Đồng lúc bấy giờ nó lại hình thành một tờ báo, gọi là tờ Lang Biang, ra đời có 3 số thôi, và tối năm 88 bị coi là dứt, tức là chỉ có 3 số thôi, gọi là một cái hoa mới vừa nở lên và nó cũng khá nổi tiếng và đến số 3 coi như dứt, tụi tôi có tham gia một số bài viết trong đó nhưng nó xảy ra một cái sự kiện là anh Bùi Minh Quốc và anh Bảo Cự tổ chức một chuyến đi xuyên Việt, hai anh đi mỗi tỉnh lại thu thập chữ ký để làm một cái kiến nghị về vấn đề văn học nghệ thuật, thế là sau đó 2 anh đi về lại Đà Lạt là bị khai trừ đảng, tôi và anh Hà Sĩ Phu cùng ở trong một cái nhóm gọi là ký cái kiến nghị bảo vệ 2 anh đó, và chúng tôi kiên quyết là việc khai trừ 2 ảnh là sai, thế là giữa chúng tôi và lãnh đạo tỉnh này sinh ra đụng chạm, từ cái đó bắt đầu tụi tui thân nhau, và trong cái dịp đó thì anh Hà Sĩ Phu viết một số bài, bài đầu tiên đó là “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ”, ảnh dùng bút danh Hà Sĩ Phu tên thật của ảnh là Nguyễn Xuân Tụ, từ cái bút danh đó lúc đầu tung ra cái bài đó thì mọi người chưa biết là của ai, thế là các vị lãnh đạo các nghành an ninh văn hóa họ cứ đi thăm dò bài này là của ai, người bảo của ông Phan Đình Diệu, người bảo của ông này ông kia, nhưng cuối cùng không phải, cuối cùng không biết cái bài “Dắt Tay Nhau Đi” là của ai thế mà trên báo đảng và báo lý luận đánh nhau tơi bời vài chục bài ầm ầm lên nên thành một bài nổi tiếng.

Thế là từ đó anh em bị cuốn vào trong một có dòng, nói chung chúng tôi là những người cầm bút, tôi thì dù sao cũng đã từng làm đại biểu hội đồng nhân dân và cũng đã từng chuyển sang phụ trách cái cơ quan dân cử ở đây là hội đồng nhân dân. Tôi cũng không thể nhắm mắt làm ngơ để cho anh em tri thức bị đánh bị vùi dập trong một cái vùng gọi là quê hương của tôi được, vì vậy mà tôi và một số anh em khác những người không cầm bút như anh Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn như anh biết người ta gọi là 2 anh em họ Huỳnh đấy, là những người ra đảng rất sớm, thì chúng tôi cùng nhau ra sức là phải bảo vệ các anh này, thế là tự dưng hình thành ra một cái tình thân hữu và một cái nhóm, bởi vì anh biết có những cái lúc rất khó khăn bị công an gác rồi quản chế..v.v; đi thăm mấy anh này mọi người rất ngại thì chỉ có bọn tôi đi tới đi lui thôi, thì từ đó bắt đầu cái mối tình thân thì khoảng cuối thập kỷ 1980 khoảng 88-89.

– LKT: Thưa ông Hà Sĩ Phu với câu chuyện anh Mai Thái Lĩnh kể vừa rồi, thì ông là một nhân vật miền Bắc vào đây, trong cái bối cảnh xã hội lúc đó thì tại sao có những luồng tư duy, đặc biệt là những đường lối hoạt động của ông, cái quan điểm của ông đã gặp nhau với ông Mai Thái Lĩnh và những anh em khác; ông thấy cái điểm nào mà ông thấy đắc ý nhất trong cái bối cảnh vào thời điểm lúc đó?

– HÀ SỸ PHU: Chắc là hôm nay các vị đã biết trong cái nhóm gọi là thân hữu chúng tôi thì cũng có đông, nhưng mà có 4 anh em chúng tôi gọi gần như là trung tâm; người khởi xướng có anh Mai Thái Lĩnh, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và tôi, bốn người này là 4 người khác hẳn nhau không ai giống ai cả, nghĩa là xuất thân khác nhau lắm, ông Lĩnh vừa nói rồi, còn tôi chỉ biết nghiên cứu tức là phòng thì nghiệm và bục giảng, không liên quan một tì tẹo nào đến hoạt động xã hội cả, nhất là con nhà nho thường là kín đáo nhu mì chứ không có gì gọi là xông xáo hoạt động xã hội cả. Mỗi người một khác, tôi cũng không hiểu cái duyên gắn với nhau nó rất lạ, tôi nói nó rất lạ như này, đầu tiên là tôi xin vào Đà Lạt để làm khoa học, như tôi nói tôi làm về cây sâm và cây tam thất 2 cây thuốc quý đó mình sản xuất để cho nhân dân mình có thuốc để dùng, thế nhưng tới cái thời tôi định vào đây lúc bấy giờ người ta đã có quan hệ với Trung Quốc khá là rộng rãi rồi, thì ở Trung Quốc họ trồng sâm trồng tam thất nó rẻ lắm người ta có sẵn mình mua chứ đâu cần phải cầu kỳ sản xuất bằng việc nhân tạo khó khăn, thế cho nên công trình đó không có ý nghĩa thực tiễn nữa tôi phải bỏ.

Đúng lúc hội văn nghệ Lâm Đồng được thành lập, anh Bùi Minh Quốc lại được tỉnh ủy lôi vào đây để làm trưởng ban vận động thành lập cái đó, thì vốn nho học của tôi thời xưa làm thơ làm câu đối lại trở nên gần gũi với văn nghệ của các anh, trước khi có hội đó thì tôi cũng đã viết một số bài thơ đăng lên báo của Lâm Đồng báo địa phương, các anh có biết, thế nhưng mà lúc bấy giờ văn học lại chỉ là cái phương tiện chở tư duy của mình, bởi vì lúc đó đất nước đang chuyển đổi bắt đầu có không khí đổi mới ập đến, thì rất là chúng tôi bốn người khác nhau lại có mặt trong hội văn nghệ Lâm Đồng, và chúng tôi đều có quan hệ với những người Cộng Sản ly khai đổi mới trước tiên ở đất nước này, tôi lấy ví dụ như cả 4 người chúng tôi đều thân với ông Nguyễn Hộ ai cũng biết, ông có tác phẩm “Quan Điểm và Cuộc Sống”, ông ấy từng có ý định lập chiến khu mà, sau đó là thân với ông Trần Độ, có một thời kỳ không được gọi là thân nhưng rất có thiện cảm với ông Võ Văn Kiệt là một người của Cộng Sản cao cấp nhưng mà cũng có những tư tưởng không đồng nhất với lại ý đa số, thì 4 người chúng tôi từ 4 phương trời khác nhau khả năng khác nhau anh làm thơ, anh làm văn, anh thì giảng dạy nghiên cứu về triết, còn tôi thì một anh về khoa học tự nhiên, nhưng xin nói tại sao khoa học tự nhiên mà lại dính vào chuyện này, ngay từ khi tôi học cái khoa sinh học ở trường đại học tổng hợp thì lúc ấy dạy Mac Lênin còn nặng lắm tôi được dạy rất nhiều, thì tôi được thấy giữa cái sinh học tôi được học với cái phần triết học Mac Lênin tôi học nó mâu thuẫn với nhau vô cùng, thì lúc bấy giờ tôi thấy xã hội còn rất ổn định coi như Mac Lênin là duy nhất khoa học không ai được cãi một nữa câu, bản thân tôi trong những cuộc thảo luận tổ sinh viên là tôi đã là người cãi bướng vì tôi thấy ông Mac Lênin nói nhiều câu chả khoa học gì cả, thế thì cái mầm nó có từ đó, cho nên khi vào đây tham gia hội văn nghệ thì tôi có nói chuyện với một vài anh em thì anh em thấy ông này với cái tư duy khoa học của ông ấy chiếu vào cái triết học xã hội này có nhiều điểm được lắm.

Có một hôm tôi với chị Việt Nga tức là con gái ông Trường Chinh cùng ngồi nghe báo cáo thời sự, thì chị Nga mới bảo: này anh Tụ những cái ý tưởng anh phát biểu làm tôi sáng ra rất ghê, khi nào anh ngồi với anh em anh tổng kết lại nói có hệ thống một chút cho anh em nghe, thế là có một cái cuộc mạn đàm với nhau, rất may là có 2 nhà khoa học xã hội, một là anh Hoàng Ngọc Hiến là nhà nghiên cứu về văn học và anh Phạm Vĩnh Cư nghiên cứu về văn học và học ở Nga rất lâu, thì cái buổi đó tôi với tư cách là một cái anh khoa học tự nhiên vẽ một cái sơ đồ báo cáo khoa học thì nghe xong mọi người bảo ông phải viết ngay bài này nhé viết và đưa ra đây sẽ là một quả bom, tôi bảo viết cái này để nó bắt cho chết à! ông Quốc còn bảo không chừng ông Mac còn bảo vệ cho ông đấy, vì ông Mac cũng có nói câu giống Phật ấy tức là muốn giác ngộ thì phải có nghi ngờ, phải có phản biện, thì ông cứ phản biện đi, thế là bắt tay vào viết bài đầu tiên dài có 10 trang đánh máy thôi là cái bài “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ”, ai ngờ vừa mới viết xong lúc đấy còn quá tin tưởng vào tính xây dựng của mình chứ, cho nên viết xong là tôi gửi cho báo Nhân Dân, gửi cho báo đảng Cộng Sản và gửi cho hội nhà văn Việt Nam, những cơ quan đó trả lời lại rất là đồng êm; ví dụ tạp chí Sông Hương đã hứa là sẽ đăng ngay trong số sau, rồi thì là hội nhà văn Việt Nam viết một thư cám ơn, thì mình được động viên quá.

Ai ngờ chỉ ít lâu sau ông Đào Duy Tùng vác cái bài đó đi khắp các hội nghị đều nói rằng có một nhóm tập thể nào đó lấy tên Hà Sĩ Phu dám dạy chúng ta về Mac, thế là thành một câu chuyện rất to, và như tôi đã nói báo Nhân Dân, báo Quân Đội, báo Cộng Sản, có hơn 30 bài đánh lại bài của tôi một cái bài rất nhỏ không thấy đăng ở đâu, thậm chí chính nhà triết gia Trần Đức Thảo viết một bài phê phản cái đó, thành ra tự nhiên một thằng khoa học tự nhiên không bao giờ chính trị nhưng vì lý luận động vào cái nền tảng chính trị của ông ấy tự nhiên biến thành chính trị hóa, thế là phía đảng đã chính trị hóa tôi biến tôi thành một nhân vật chính trị.

Đồng thời phía hải ngoại thấy được bài viết đó cũng hoan nghênh quá, tôi nhớ lúc đấy còn ông Nguyễn Ngọc Lan và ông Đỗ Mạnh Tri đã giúp tôi, khen lắm một bài viết như thế này sau lại không được đăng tiếc quá, bên ngoài cũng rất ủng hộ, thậm chí đài RFA cũng đọc bài viết của tôi liền mấy tháng liền, thế thì một anh trước giờ chỉ biết phòng thí nghiệm chỉ biết bục giảng tự nhiên bị hai bên đẩy vào chính trị, và trong 4 người chúng tôi thì tôi là người bị đẩy vào chính trị sâu nhất cho nên bị ngay cái án tù 1 năm từ năm 95 tới năm 96.

Tóm lại về câu hỏi của anh thì là tại sao 4 người chúng tôi người thì Bắc người thì Nam, mỗi người chuyên môn khác hẳn nhau tại sao lại cùng với nhau chia sẽ nhau cái nhìn, thế thì tóm lại là gì, tôi chia sẻ cái cơ sở của nó là thế này là tư duy khoa học, nhất là tôi với anh Lĩnh, tư duy triết và toán dùng những cái luận lý khoa học thấy được cái phi lý của cái lý luận chính trị này, muốn thành người tri thức thì phải dấn thân vào cho xã hội bởi vì thành người tri thức là mình nợ xã hội, xã hội cho mình bao nhiêu thứ mình mới thành người tri thức, chứ nếu mình chết đi mình mang cái tri thức đó đi thì mình thành ăn quỵt, thế thì chính với cái tư duy cái tấm lòng là phải trả nợ áo cơm, trả nợ kiến thức cho xã hội thì 4 người chúng tôi đều nghĩ giống nhau, cho nên mặc dù là anh thì văn nghệ anh thì giảng dạy nhưng đều thấy dùng cái vốn ấy của mình làm cho cái cuộc đổi mới, cái này giống nhau vậy gặp nhau là gì gặp nhau ở cái trí cái đầu, và gắn nhau ở trái tim.

Còn phải kể đến cái yếu tố thứ 3, yếu tố ngẫu nhiên tự nhiên, sao một anh đang ở Hà Nội lại nhảy vào Đà Lạt, rồi do hoàn cảnh đưa đẩy một anh theo cách mạng chính thống từ miền bắc như là anh Quốc với 2 ông gọi là phong trào trong miền nam là ông Lĩnh với ông Cự, 4 người thì 4 phương trời giống nhau chỉ có 2 điểm đó thôi giống nhau ở cái tư duy khoa học giống nhau ở tấm lòng đối với đất nước, và với cái cơ duyên gắn kết 4 chúng tôi vào nhau. Xin thưa là với cái mối gắn kết này công an người ta khó chịu lắm, người ta khai thác sự khác nhau giữa 4 anh này và đã nhiều phen đánh phá nhưng mà vì chúng tôi có cơ sở quá vững cho nên đánh không ăn thua, 4 người chúng tôi đặc biệt là tách anh Cự anh Quốc ra khỏi tôi với anh Lĩnh không tách được, 4 người chúng tôi mới vừa rồi vào ngày 22/4 là ngày sinh nhật tôi mà trùng với sinh nhật ông Lênin ấy, 4 người chúng tôi cùng ngồi với anh em ở đây và hoàn toàn vui vẻ, thế thì câu hỏi của anh nguyên cớ gì mà gắn 4 người với nhau thì tôi nói rằng người ta căm thù cái sự gắn kết đó, và tìm mọi cách phân tán ra mà phân tán không được ạ.

– LKT: Vâng xin cám ơn ông, chúng tôi xin được trở lại với ông Mai Thái Lĩnh, thưa ông năm xưa ông đã thoát ly từ cái môi trường của ông đang sống để đi theo Cộng Sản, bây giờ ông lại thoát y từ bỏ đảng Cộng Sản, trong khi đó từ năm 1985 đảng Cộng Sản đã có sự gọi là đổi mới Glasnote – Perestroika, và hiện nay đang có dấu hiệu tạm gọi là sự thay đổi cơ chế và hệ thống đảng Cộng Sản;  trải qua một quá trình lâu dài như vậy và đã từng sống với nhiều chế độ, xin ông có thể cho biết con đường chính trị Việt Nam hiện nay cũng như con đường của đảng Cộng Sản sắp tới như thế nào không ạ?

– MAI THÁI LĨNH: Tôi thì tôi hình dung cái quá trình đổi mới của Việt Nam là như thế này: năm 86 có thể là cái thời điểm đảng Cộng Sản đổi mới nhưng đáng tiếc là ở Việt Nam cái cuộc đổi mới năm 86 đó như rất nhiều người kể cả các đảng viên cao cấp của đảng đã nói đấy là chỉ đổi mới có một hướng, là đổi mới kinh tế chứ không đổi mới chính trị và tư tưởng. Cái hạn chế lớn đó đến khoảng năm 89-90 khi tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đi sang một số nước xã chủ nghĩa thấy hệ thống xã chủ nghĩa sụp đổ ông ấy lại càng lo sợ hơn nữa, và ông ấy cố tìm cách bảo vệ cái đảng này cho nên cái công cuộc đổi mới nó bị khựng lại từ đó, cho nên đổi mới này là đổi mới có một chân, và cái chân quan trọng như tôi phân tích trong một số tác phẩm có lẽ đọc giả hải ngoại ít chú ý, ở trong nước thì để ý nhiều hơn, là vì tôi đã nói tôi học chủ nghĩa Mac qua 2 cái cách khác nhau.

Trước năm 75 tơi có học triết học đông phương, triết học tây phương trong đó tôi cũng có học cả Mac nữa, thế là sau năm 75 tôi lại được học cái Mac Lênin ngày trong cái trường đảng nữa, tức là từ 2 cái cách học khác nhau đó soi trở lại thì tôi lại thấy cái gốc của vấn đề.

Đối với một đảng Cộng Sản cái quan trọng hàng đầu mà người ta cứ nói nhập tâm đối với đảng Cộng Sản chỉ có 2 vấn đề nhập tâm nhất chính trị tư tưởng là 1 cái chân thứ 2 là tổ chức, đối với đảng Cộng Sản 2 cái đó là quan trọng nhất – chính trị tư tưởng và tổ chức, cho nên, nhiều khi những người kể cả học giả tây phương khi nghiên cứu về chủ nghĩa Mac hay chủ nghĩa Cộng Sản họ không hiểu điều này, người Cộng Sản sức mạnh của họ là do cái đầu khi họ nhồi tất cả cái đầu đi về một hướng thì tất cả nó tạo thành một sức mạnh, cho nên họ rất sợ cái chất keo này nó rã ra, cho nên cái đổi mới chính trị tư tưởng đối với đảng Cộng Sản là một điều hết sức quan trọng, kế đến là tổ chức, thì cái năm 86 mặc dù có chuyển biến về mặt kinh tế nhưng về mặt chính trị tư tưởng và tổ chức thì đảng Cộng Sản lại lo sợ mất quyền nên họ không thay đổi cái chỗ đó. Tôi nghĩ đó là một cái đáng tiếc cho Việt Nam.

Và khi chúng tôi phát hiện ra điều này, như đã nói là mấy anh em ở Đà Lạt bắt đầu hình thành chung với nhau như vậy thì nó xảy ra một cuộc va chạm, thứ nhất về phía chúng tôi và một số các vị trong đảng Cộng Sản mà thực sự họ có một cái ý thức đối với dân tộc và họ có một cái suy nghĩ độc lập thì từ từ họ hưởng ứng chúng tôi, nhưng mà ngược về phía cái ban lãnh đạo mà chiếm đóng thì họ rất khó chịu, thế thì tôi hình dung con đường đổi mới của Việt Nam hiện nay như thế này, vấn đề đã được đặt ra rồi nhưng đổi mới theo cách nào thì nó còn đang là vấn đề rất lớn, hiện nay người ta giả định là trong đảng Cộng Sản có 2 xu hướng khác nhau tạm gọi như thế, một cái gọi là xu hướng tiến bộ cấp tiến, một cái xu hướng là bảo thủ giáo điều, nhưng mà cái khó nhất sau khi quan sát quá trình đổi mới trong đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là đối với một cái đảng Cộng Sản thì cái gì cũng bị bưng bít, thứ 2 là những cái người bảo thủ giáo điều phát biểu thì họ không sợ gì cả, bởi vì họ đi theo con đường mòn, họ không bao giờ phải chịu trách nhiệm lỡ có gì thì họ chỉ bị kiểm điểm sơ sơ rồi cũng hạ cánh an toàn thôi, nhưng nếu anh là một người có tư tưởng đổi mới tiến bộ mà anh để lộ ra là anh bị gạt ra ngoài liền, đó là một cái rất khó cho nên chúng ta không thể phân biệt được trong đảng Cộng Sản ai là thật sự đổi mới, ai không thật sự đổi mới, chúng tôi chỉ xác nhận những người sau đây là thực sự đổi mới chẳng hạn như là ông Nguyễn Hộ ông Trần Độ đó là những người có quyết tâm đổi mới, nhưng ngược lại những người khác chúng ta thấy rất là lờ mờ thấy không rõ, cái đó là cái rất khó cho ở bên ngoài, cho nên theo ý tôi thì là trong cái quá trình đổi mới hiện nay có 2 vấn đề đạt ra, vừa rồi có một cuộc gặp gỡ trao đổi giữa tôi và một số anh em, một số anh em ở đây và một số anh em ở Sài Gòn cũng trong phòng trào học sinh, sinh viên cũ của Sài Gòn, thì có đặt vấn đề thế này, có 2 cái mảng ở trong đảng là có một thành phần tiến bộ đổi mới hay không, thì chúng tôi nghĩ là có, nhưng sức mạnh nó bao nhiêu, khả năng nó có thể chuyển đổi bao nhiêu thì chúng ta không rõ, cái phần thứ 2 là cái phần bên ngoài, là cái cuộc đấu tranh bên ngoài thì cũng có nhiều phương pháp khác nhau lắm, nhưng mà chúng ta có một cái cánh đổi mới theo phương thức ôn hòa bất bạo động, thì bên ngoài và bên trong anh nào là anh quan trọng hơn, thì giữa chúng tôi có cái không thống nhất, một số anh em cho rằng là bên trong quan trọng hơn, nhưng riêng đối với tôi và anh Hà Sĩ Phu chúng tôi quan niệm là bên ngoài mới là quan trọng, chừng nào cái phong trào đấu tranh ôn hòa bên ngoài mạnh chừng nào thì nó mới tạo điều kiện cho cánh chân bộ trong đảng phát triển lên, chứ còn trông chờ vào cái đảng Cộng Sản… bởi vì phải nói cho đến cái tuổi này tôi đã bước vào gần tuổi 70 rồi, anh Hà Sĩ Phu đã qua cái tuổi 70 rồi thì nhìn quá trình quan sát đảng Cộng Sản Việt Nam chúng ta cảm thấy đừng có hoài công vô ích chờ đợi cái sự đổi mới từ bên trong, vì cái sự thành lập của đảng Cộng Sản Việt Nam nó khác với các đảng Cộng Sản ở Đông âu, các đảng Cộng Sản Đông âu là do cái áp đặt của Liên xô cho nên họ mới bị áp đặt một chế độ Cộng Sản trên các nước đó, thứ 2 ở các nước đó trước kia đã có 1 cái nhánh gọi là đảng Xã hội Dân chủ, thì sau chiến tranh thế giới thứ 2 thì các đảng Cộng Sản Đông âu họ bắt cái cái đảng Dân chủ Xã hội này phải nhập đảng của họ, anh nào không nhập vào được thì họ đuổi ra hoặc là tìm cách đàn áp để ra ngoài, cho nên dù sao ở các đảng Cộng Sản Đông âu đó vẫn có một cái mầm là đảng Dân chủ Xã hội cũ; đó là cái yếu tố đổi mới của họ nó vẫn có trong lòng, cho nên chúng ta mới thấy sự kiện 56 của Hungary, sự kiện 68 của Tiệp Khắc, chứ Việt Nam làm gì có, Việt Nam mới vừa mon men lên cái chuyện Nhân văn Giai phẩm là bắt đầu nó dập rồi, mà cái mức độ đổi mới rất là thấp, cho nên tôi nghĩ rằng đừng có hy vọng vào đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam mà tự đổi mới, nhưng trong quá trình phát triển thì theo tôi nghĩ là cái cuộc đấu tranh của phong trào bên ngoài mạnh chừng nào thì nó sẽ tạo điều kiện cho cái nhân tố ở trong đảng, tức là cái mà chúng ta gọi là cái cánh cấp tiến nó phát triển hơn, thì lúc đó chúng ta mới có cơ may chuyển đổi xã hội được, tất nhiên có những người hải ngoại nữa, nhưng chúng tôi nghĩ cuộc đấu tranh trong nước là cái quan trọng nhất, ở nước ngoài có một cái hạn chế là giúp được chúng tôi rất nhiều nhưng không trực tiếp, cho nên ở hải ngoại cũng là một lực lượng rất là quan trọng, điều rất là đáng quý bây giờ chúng tôi mới có thể nói là cái năm mà tôi và anh Hà Sĩ Phu bị khởi tố vụ án phản bội tổ quốc, sau đó chúng tôi không được sử dụng internet, đến khi tôi được sử dụng internet lại thì tôi mới phát hiện ra là có hàng nghìn chữ ký ở bên ngoài để bảo vệ cho tôi và anh Hà Sĩ Phu.

Có thể nói đây là lần đầu tiên nhờ qua anh và qua các cơ quan của anh để chúng tôi nói hết sức cám ơn, lúc đó chúng tôi mới mở được internet, lúc đó anh Hà Sĩ Phu cũng không được sử dụng internet tôi phải chép từng cái đĩa hay cái gì đó đưa lại cho ảnh. Tôi trở lại với vấn đề hồi nãy cái khó nhất là của một cái đảng Cộng Sản là vì những cái cách làm việc của họ, cái thói quen của họ cho nên không có gì là rõ ràng, cho nên đối với những cái ý kiến của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thật ra tụi tui cũng chưa dám khẳng định là đến mức nào, và có thực tâm hay không hiện nay thì chúng tôi chưa khẳng định, nhưng mà phải có thời gian, phải có những cái gì thực tế chúng ta mới rõ, bởi vì tôi nhớ tôi có đọc trên một tờ báo Liên xô bằng tiếp Pháp vào thời kỳ đối mới thì cái ông thủ tướng cuối cùng của cái đảng Ba Lan ổng có nói một câu là “đừng có nói rằng cái này là do tôi, tôi là thủ tướng nhưng tôi chỉ làm những gì của bộ chính trị chứ tôi có quyền gì đâu”! Tôi thấy trong cái lúc dầu sôi lửa bỏng như thế mà ông ấy nói được; như vậy trong tình hình Việt Nam tôi nghĩ ông Tấn Dũng chưa chắc dám nói hết những gì mình nói ra, cho nên tôi nghĩ câu hỏi này chúng ta nên đợi thực tế, tôi cũng nhắc lại một cái ý mà hôm trước tôi có nói với một số anh em trên Sài Gòn thế này, chúng ta không chủ trương ủng hộ một cá nhân nào, nhưng chúng ta cũng tuyệt không từ chối bất cứ cá nhân nào, kể cả những người được đánh giá là bảo thủ, bởi vì bất cứ người nào là Cộng Sản nhưng nếu như ông có những hành động thực tiễn, có những quan điểm đúng đắn làm việc tốt thì chúng tôi ủng hộ, chứ chúng tôi không ủng hộ một cá nhân, cái thứ hai nữa là trông cái thông điệp đầu năm có nói về vấn đề đổi mới nhưng tôi đọc thì tôi còn thấy chưa rõ ở một cái điểm này, tại vì cách nói của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không biết là có phải vì ở cương vị của ổng, ổng không dám nói hết hay không, tôi không hiều là đổi mới theo thể chế kinh tế hay đổi mới về chính trị, mà hiện nay có một cái đề tài mà sắp tới tôi cũng sẽ viết thêm một số bài để làm rõ hơn trong cái quan niệm về đổi mới của phía gọi là cánh tả, chủ nghĩa xã hội nó có hai quan niệm khác nhau, quan niệm thứ nhất được gọi là dân chủ xã hội tức là society democratic, quan niệm thứ hai gọi là chủ nghĩa xã hội dân chủ democratic socialism, hai quan niệm này ngày xưa giống nhau nhưng khoảng từ đầu thập niên 80 đến nay là bắt đầu nó tách hẳn ra hai quan niệm khác nhau, quan niệm dân chủ xã hội ngày nay người ta không nói gì tới chủ nghĩa xã hội nữa mà người ta coi nền kinh tế chắc chắn là nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản nó phát triển chứ anh cũng chưa tìm ra cái gì thay nó cả, thế thì anh chỉ là dùng hệ thống chính trị để anh điều chỉnh thế nào cho nó có cái công bằng trong xã hội, phân phối cho nó công bằng phát triển cho nó đúng hướng, hạn chế tác hại của kinh tế thị trường, nếu mà anh thả nó ra nó sẽ xảy ra chuyện này chuyện kia, chứ họ không nói gì tới một cái chủ nghĩa xã hội để thay cái chủ nghĩa tư bản này cả, ngược lại cái phái mà gọi là chủ nghĩa xã hội dân chủ họ vẫn coi là phải xây dựng chủ nghĩa xã hội để thay chủ nghĩa tư bản, và chỉ khác nhau là phương pháp dân chủ, thế thì nó khác nhau là một bên coi đây là phương pháp dân chủ, một bên coi là phương pháp dân chủ bằng nguyên tắc dân chủ, tôi nói ví dụ tại Đức cái đảng SPD tức là cái đảng Dân chủ Xã hội lâu đời hiện nay họ trở thành một cái đảng trung tả Center-left tức là họ nhích thêm một tí nữa tức họ giống với cái đảng Dân chủ Mỹ. Tôi cứ hình dung nếu họ ngã thêm tí nữa, rồi đảng Dân chủ Mỹ ngã sang cánh tả thêm tí nữa là hai anh giống nhau giữa Châu Âu và Hoa Kỳ hoàn toàn giống nhau; ngược lại cái đảng mà gọi là đảng cánh tả đó là leftist tức là bao gồm ông Gysi vừa rồi phát biểu có phần bênh vực ông Putin ấy, chính là cái đảng Cộng Sản cũ của Đông Đức chuyển thành và một bộ phận của đảng SPD họ không bằng lòng họ tách ra, thì cái đảng này thật ra là một cách đổi mới mà người ta gọi là Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ chứ chưa phải là Dân chủ Xã hội, còn Dân chủ Xã hội ngày nay là họ không quan niệm cái chuyện kia nữa, thành ra tôi đọc thông điệp đầu năm tôi có cảm giác như cái này nó vẫn còn nằm trong cái hướng Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ thôi, cho nên tôi cũng chưa biết quan niệm nếu là đổi mới chính trị thì đến mức nào, cái đó tôi chưa dám khẳng định, nhưng mà tôi xin nói thêm cái đó cũng là cái bước đáng hoan nghênh, nếu đổi mới được theo hướng đó nhưng chỉ là mới nửa con đường thôi.

– LKT: Vâng xin cám ơn ông Thái Lĩnh, cũng xin trở lại cái đề tài vừa rồi xin hỏi ý kiến ông Hà Sĩ Phu thì ông nghĩ thế nào về quan điểm đổi mới  của ông Nguyễn Tấn Dũng hiện nay?

– HÀ Trước hết tôi đề cập vấn đề này giữa lời nói và người phát ngôn; trước hết hiện nay thế nào là đúng thế nào là chân lý thì con đường của toàn nhân loại đã quá rõ, hai là con đường của Việt Nam phải trở thanh cái gì cũng rất rõ, tóm lại cái chân lý để nói cho đúng khách quan thì rất rõ rồi, những người Cộng Sản mà nói thì nói những lời hay nhất thì cũng chỉ mới là nói một phần của chân lý thôi, chưa nói đến tận cùng của chân lý, nhưng mà những câu nói đó rất đáng hoan nghênh, bởi vì trong cái hệ thống này trước đây toàn nói ngược với lại chân lý nói ngược với lại tiến hóa, thế bây giờ người ta dám nói thế thì đàng hoan nghênh quá rồi, nhưng cái điều quan trọng là phải phân biệt cái lời nói của con người đấy và thật chất con người đấy.

Ví dụ rất nhiều người trong cái đấu tranh dân chủ hiện nay là cứ phải trích lời của cụ Hồ, thì cũng có nhiều câu nói được lắm chứ, ví dụ như câu nói “nếu chính phủ hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ mà”, thì câu nói ấy quá mạnh, câu nói ấy được quá, nhưng mà con người sao? nói thế, nhưng cả đời ông Hồ chưa bao giờ tạo điều kiện để thực hiện cái đấy, để thực thi cái đấy phải có luật, muốn thực hiện được phải có tổ chức, mới có sức mạnh để đuổi được chính phủ chứ, cụ không bao giờ tạo ra cái đó cả, thế tóm lại là gì? lại soi cái đấy vào những câu nói rất tốt đẹp, ví dụ lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng vừa rồi, thì tôi nói lời nói rất đáng hoan nghênh, nếu làm được đúng như lời nói thì tốt quá, nhưng mà tôi giống như ý kiến của anh Lĩnh đấy, tức là phải phân biệt giữa lời nói và thực chất của con người, bởi vì trong điều kiện xã hội hiện nay thì ở một xã hội mà bị bưng bít, chẳng những là bưng bít của chế độ Cộng Sản đối với nhân dân mà ngay cả trong đảng với nhau nữa, họ cũng trói buộc nhau ghê lắm, đã là trong đảng phải có một cái kỷ luật đảng đâu thể nào khác được, vì thế cho nên cái lời nói với lại thực tế còn một cái khoảng cách rất xa, vì thế cho nên khi ta ủng hộ thì phải nhớ đến điều này, và tôi ủng hộ câu đó, câu đó là một phần của chân lý đấy, nhưng tôi không ủng hộ con người đó đâu nhé, anh nói câu đó nhưng mà để xem anh có phấn đấu tạo điều kiện để làm cái đó hay không thì cái chuyện đấy tôi để ngỏ, cho nên rằng khi tôi khen những câu của ông Nguyễn Văn An trước đây, khen những cái lời phát biểu đầu xuân vừa rồi của ông Nguyễn Tấn Dũng, thì khen là rất đúng còn nói những câu đó là rất đáng mừng, nhưng không được dừng ở đấy mà phải nói luôn rằng cái đó nếu mà chỉ để nói cho vừa lòng dân thôi thì là nói xạo thì nó sẽ phản tác dụng, tức là đáng lẽ câu đó nâng con người anh lên nhưng nếu chứng minh được rằng anh làm lại không làm như thế hoặc là ngược lại thì chính câu nói đó sẽ làm giảm lòng tin đối với anh, chứ không phải một câu nói hay đã là tốt đâu, câu nói hay mà làm theo đó thì nó nâng uy tín của anh lên thật sự, thậm chí uy tín có thể đến mức độ là đổ được phía đồi lập mà bảo thủ, thế nhưng nếu không thực hiện thì tác dụng lài dội ngược, nghĩa là anh tạo ra một cái bài PR cho mình tạo ra một cái hy vọng nhất thời, nhưng rồi lại tịt, lài làm một cái phi vụ khác làm một cú nổ khác tạo một hy vọng khác, nếu làm lại cái đó hai, ba lần thì những lời hay đó sẽ mất tác dụng, mà tôi sợ rằng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lập lại cái bài đó hai, ba lần rồi.

Có một lần ông ấy đã nói rằng phải có một cái luật để cho nhân dân được biểu tình chứ, cho nên trí thức Hà Nội đã biểu tình ủng hộ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là sẽ được biểu tình, nhưng chính cuộc biểu tình đó bị đàn áp, thứ 2 là về bảo vệ đất nước bảo vệ biển đảo ông ấy cho rằng trước đây miền Nam đã có công giữ biển đảo thì ta cũng phải kỷ niệm cũng phải ca ngợi chứ, rồi cuối cùng cũng không thực hiện được; thế là lần thứ 2 một câu nói rất hay cũng bị hỏng rồi, lần thứ 3 này có vẻ mạnh mẽ hơn bởi vì cũng với những câu nói tốt đẹp đó thì có thêm một vài cái biểu hiện là đã có một cái lực lượng nào đấy đứng đằng sau, thì có vẻ có mạnh hơn chút, nhưng mà chúng tôi hoan nghênh cái câu nói, còn có hoan nghênh cái nhân vật ấy hay không thì còn phải chờ.

– LKT: Thưa ông cũng trong cái thông điệp đầu năm của ông Nguyễn Tấn Dũng thì một người cũng rất có uy tín được biết từ trong nước tới hải ngoại đó là giáo sư Tương Lai, giáo sư Tương Lai đã có một bài viết hầu như là “khen ngợi” đối với thông điệp đó, nhưng ngược lại sau đó lại có một loạt những cái bài phản hồi phản biện, có vẻ như “đã kích” giáo sư Tương Lai, thì ông nghĩ thế nào về cái tính chất dân chủ đa nguyên từ từ đã nảy mầm ở Việt Nam như vậy có không ạ?

– HÀ SỸ PHU: Tôi nghĩ những cái tích lũy về lượng nhiều năm nay đã khiến cho năm 2014 này là một cái điểm mà nó phải có những cái biến đổi nhiều hơn về chất, cho nên là nhà cầm quyền tức là đảng Cộng Sản cũng thấy là không thể cai trị theo kiểu cũ nữa, cho nên chính trong họ cũng phải xuất hiện nhiều kiểu nói, và nhiều cách ứng xử.

Những người dân chủ cũng thế, trước đây thì việc bưng bít rất là nặng nhưng hiện nay việc bưng bít ở một số khía cạnh nào đó có phần là được mở ra, nhưng tôi phải nói ngay là mở ra ở mặt này nhưng đóng lại ở mặt khác, tôi lấy ví dụ như bên cạnh việc thả ông Cù Huy Hà vũ thả ông Đinh Đăng Định, thế rồi thả ông Nguyễn Tiến Trung, nhiều người cho rằng đấy là biểu hiện của sự cởi mở, thế nhưng đừng nhầm đó là cái tiếng nói để nói với Hoa Kỳ, đó là cái quân bài để trao đổi hàng hóa gọi là đối lưu với Hoa Kỳ, chứ bên cạnh việc đó đảng Cộng Sản luôn luôn nói lại với dân, đừng tưởng bở, đừng tưởng tôi thả anh như thế là trong nước cứ làm bậy đâu, đúng trong lúc đó thì đã có những cú bắt người đánh người và có người chết trong đồn công an nữa chứ, đúng trong cái lúc đó tôi đang được yên tĩnh một hai năm nay bỗng nhiên bắt gọi lên làm việc lại, và tôi phải ra cái thông cáo là tôi cương quyết tôi không làm việc lại, rồi ông Phạm Đình Trọng cũng bị bắt làm việc lại, gần đây là Phạm Bá Hải, tức là người ta làm ở đây để nói với Hoa Kỳ, anh đòi thả thì tôi thả nhưng anh đừng tưởng bở tôi chưa có gì thay đổi đâu, thì tôi nói giữa cái thời gian này là tình hình rất phức tạp, giữa cái biểu hiện bên ngoài với cái thực chất bên trong có khi không phải là một, có khi họ nói hay nhưng trong bụng họ chưa thay đổi gì cả đấy là một kiểu, kiểu thứ hai là có người định thay đổi rất nhiều nhưng mà nói ngay cái đích cuối cùng thì lại phải chọn cái cách nói nội bộ, cách nói ôn hòa, tóm lại là cả hai bên đều dối trá, cái anh bảo thủ thì dối trả nói lời lời tốt đẹp để mua phiếu hay được lòng dân kỳ thực bên trong những cái chốt vẫn giữ nguyên không thay đổi gì cả đấy, là cái dối trả của người cầm quyền, nhưng mà phía những người dân chủ thì cũng có dối trá, tôi gọi dối trá đây không phải dối trá mà là đối với người dân chủ thì người ta gọi là phương pháp, tôi biết cuối cùng phải đi đến điểm Y điểm Z này, nhưng khởi đầu mà đi đến Z chết ngay, khởi đầu thì cũng phải nói từ ABC, cho nên giữa lời nói và thực tế luôn luôn cứ phải đánh dấu “?”, mà chỉ có những người trong cuộc thì sự phân định mới đúng, ví dụ có những người trong cuộc có 2 loại người trong cuộc, thứ nhất là chính người cầm quyền tức là người độc tài họ phân định đúng vô cùng, dù cho anh có lựa lời nói rất nội bộ rất ôn hòa họ vẫn biết ngay, còn người nói rất mạnh thì họ biết ngay người này không mạnh hay là mạnh ngoài da, mạnh này là cú đấm vào chân vào tay, chứ không phải chọc vào huyệt, tức là người trong cuộc người cầm quyền họ phân định rất đúng, họ chỉ ai họ biết người đó là nguy hiểm, có những anh rất hùng hồ quơ chân quơ tay nhưng họ vẫn không chỉ. Đấy là người trong cuộc người thứ nhất là người cầm quyền, thứ 2 người trong cuộc là người đã lăn lộn trong cái cuộc dân chủ đổi mới của đất nước này, đã từng bị tù tội từng đã bị trừng trị rất nhiều năm, thì cái nhìn của người trong cuộc ấy mới không bị lừa, chứ người mới còn đứng bên rìa chỉ căn cứ vào thông tin thì rất dể bị ngộ nhận, bởi vì giữa cái người ta nói ra với cái thực chất cái trong đầu người ta định cái gì thì vẫn chưa có máy dò để xác định được.

– Vâng xin cám ơn ông Hà Sĩ Phu, chúng tôi xin trở lại với ông Mai Thái Lĩnh, thưa ông qua nhũng sự nhận định của ông Hà Sĩ Phu thì ông có cho rằng là những người trong cuộc,là những người cầm quyền của đảng cộng sản hiện nay họ đang chuẩn bị từng bước để tiến tới cái đại hội 12, và theo ông cái đại hội 12 sắp tới này nó có thay đổi lớn nào với Việt Nam hay không?

(Xem tiếp phần 3 hết ở http://www.nhatbaovanhoa.comt)

+++++++++++++++++

Ông Đặng Thế Hùng dẫn đoàn đến thăm 9 người Lính biển trấn giữ đảo Đá Nam

Lời tòa soạn:

Hôm nay là ngày 19-04-2014.

Từ Cát Lái ra cửa biển Vũng Tàu, sau hai ngày hai đêm con tàu HQ 571 lướt sóng ngoài khơi biển Trường Sa; bây giờ là 7 giờ kém 15, áo phao buộc chặt, dập dềnh mặt sóng nhẹ, chúng tôi dời tàu mẹ xuống ca-nô chuẩn bị tiến vào đảo Đá Nam. Đây là hòn đảo đầu tiên chúng tôi đến thăm. Đá Nam cách đảo Song Tử Tây độ khoảng mươi km. Nó là một tiền đồn mọc lên giữa biển bao la bảo vệ phía nam cho Song Tử Tây.



Thượng Úy Nguyễn Huy Hải, đảo trưởng và 8 chiến sĩ hải quân đón chào ông Đặng Thế Hùng dẫn đoàn đến thăm đảo Đá Nam. Ảnh Văn Hóa Magazine.

Sau khi thăm đảo Đá Nam về chúng tôi sẽ ghé đảo Song Tử Tây. Lại nói vài hàng về Song Tử Tây. Là một cứ điểm quân sự quan trọng, đảo khá  lớn, có nước ngọt, có đất trồng rau, có hàng cây Phong Ba, cây Bão Táp, Cây Bàng Vuông mát rời rợi, và nó có thể chứa đến một tiểu đoàn. Cách nhau độ chục cây số phía bắc Song Tử Tây là đảo Song Tử Đông. Việt Nam và Philippines đang thực hiện các cuộc giao lưu “Văn Hóa Quân Sự” giữa hai hải đảo anh em.

Song Tử Đông hiện do Philliphine kiểm soát. Song Tử Tây do Việt Nam kiểm soát. Ngày 22 tháng 8 năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hải quân VNCH đã xây kiên cố một bia chủ quyền bằng bê tông cốt sắt. Chữ còn rành rành khắc sâu vào đá.

Bia chủ quyền do Chính phủ VNCH và Hải quân VNCH dựng trên đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa ngày 22 tháng 8 năm 1956. Ảnh Văn Hóa Magazine

Một Liên minh Quân sự Chiến thuật Đông-Tây nếu được nối kết, sẽ mang lại lợi ích cho hai quốc gia trên hải đồ quyền chủ quyền trung tâm biển đảo Trường Sa, liên minh quân sự có khả năng trấn áp áp lực bành trướng quân sự từ căn cứ Gạcma do Trung cộng chiếm đoạt của Việt Nam năm 1988.

Hai anh em song sinh Song Tử Đông-Song Tử Tây chính là cặp hải đăng chiếu rọi tuyến đường hải lộ hàng ngàn tỷ đôla từ eo Malacca vượt qua Luzon-Cao Hùng tiến ra tây Thái Bình Dương.  Làm chủ được Song Tử Đông-Song Tử Tây tức là làm chủ được mạn bắc Trường Sa, nhưng nhớ rằng, từ Vũng Tàu ra đến Song Tử Tây cách nhau gần 800km.

Súng đạn sẵn sàng trên đảo Đá Nam. Ảnh Văn Hóa Magazine.

Nghệ sĩ Chèo Thanh Lan. Ảnh Văn Hóa Magazine.

*
Theo lời một thủy thủ, Đá Nam cách Song Tử Tây khoảng 6km. Chúng tôi đang đứng trên đảo Đá Nam. Tiếng hát của người nghệ sĩ Nhà hát Chèo Thanh Lan từ đâu bỗngvang vọng:

– Bài thơ Việt Nam máu và hoa để thể hiện tình cảm của các anh em trong đoàn; thưa, bài thơ đó là:

Việt Nam ôi Việt Nam!
Tiếng súng, tiếng gươm không bao giờ dứt
Bởi, đất nước ta không bao giờ chịu nhục
Dân tộc ta không chịu cúi đầu
Những thế hệ hôm nay cầm súng
Tuổi anh hùng – đã bốn nghìn năm.

– Tôi xin hết. Và có lẽ là mời một đại biểu. Mời bác Công, người lớn tuổi nhất đoàn…Vâng, thôi mời anh Trung đi ạ.
– Trước tiên xin cám ơn ông Đặng Thế Hùng, phó Chủ nhiệm người Việt Nam ở nước ngoài, mời anh Hùng:

– Thay mặt Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn và đoàn đại biểu người Việt nước ngoài, tôi xin gởi tất cả những tình cảm nghĩa đồng bào, tình non sông đến các chiến sĩ đang hy sinh bảo vệ đảo Đá Nam …

Thoát ra bầu không khí nghi thức, tôi rảo bước một vòng hòn đảo “cô đơn”. Bắt gặp một người lính có dáng dấp chỉ huy, tôi hỏi:

– Anh là người chỉ huy đảo?

– Dạ vâng.

– Anh đeo lon chức gì vậy?

– Cháu là Thượng Úy Nguyễn Huy Hải.

– Thượng Úy cho tôi hỏi vài câu được không?
– Vâng!
– Xin Thượng Úy có thể cho biết rằng đảo Đá Nam này diện tích khoảng bao nhiêu km?
– Dạ kính thưa chú, diện tích đảo Đá Nam nếu chỉ xét về góc độ đảo, thì đảo của chúng ta rất là rộng, bao gồm cả thềm san hô cả về hải lý ngoài san hô. Còn nếu xét về diện tích ở trên này thì khoảng hơn 600 mét vuông.
– Thế Thượng Úy ra đây bao lâu rồi và bao lâu thì có thể trở lại đất liền?
– Dạ cháu mới ra được 4 tháng.
– 4 tháng?
– Dạ vâng, cháu thường công tác 1 năm thì luân chuyển công tác 1 lần.
– Tức là 1 năm thì trở về thăm đất liền 1 lần?
– Dạ vâng.

– Cám ơn cháu.

Ông Đặng Thái Hùng mời tôi phát biểu, tôi cũng xin được phép phát biểu vài câu cảm tưởng. Thưa quý vị đại biểu tôn giáo, thưa quý vị trưởng thượng, thưa quý vị , đặc biết là anh Đặng Thái Hùng cũng như là Thượng Úy Nguyễn Huy Hải. Tôi là một người Mỹ gốc Việt. Lần đầu tiên tôi về thăm Trường Sa, và đây cũng là lần đầu tiên tôi đặt chân đến đảo Đá Nam.

– Với sự học hỏi của chúng tôi nhiều năm qua về Biển Đông, tôi được biết đảo Đá Nam nằm về hướng Đông của đảo Song Tử Tây, cách Song Tử Tây độ 6km, có phải không ạ? Vâng, đây là một hòn đảo cực nhỏ. Tuy gọi là đảo, nhưng thật ra nó là một hòn đá nửa nổi nửa chìm trên mặt biển xanh. Như Thượng Úy Nguyễn Huy Hải nói, từ một viên đá nổi chìm dưới mặt biển, hải quân đã xây lên thành một căn cứ quân sự để bảo vệ lãnh hải, bảo vệ ngư dân của chúng ta đi đánh cá quanh khu vực này.

Chúng tôi thấy rằng với sự quyết tâm cũng như sự hy sinh của các anh em chiến sĩ hải quân Việt Nam, sống với cái nóng, sống với cái bão bùng, cái đe dọa, trên một hòn đảo trơ vơ giữa Biển Đông mênh mông, các anh em đã chiến đấu ở đây hàng năm trời mới có vài ngày phép, đó là sự hy sinh vô cùng to lớn. Không có bút, không có lời nào có thể tả được sự hy sinh này.

Chúng tôi là những người Việt Nam ở nước ngoài,  tuy chúng tôi có sự hiểu biết chút ít về Biển Đông, về sự sinh hoạt, về sự chiến đấu của những người lính trẻ tuổi chỉ bằng con cháu chúng tôi, đặc biệt đối với lính hải quân, chắc tay súng giữ biển, giữ đảo …; nhưng cho là có sự hiểu biết tới đâu, nghiên cứu tới đâu, vẫn không thể tưởng tượng ra một sự thật như sự thật trên hòn đảo Đá Nam. Cho nên, đây là lần đầu tiên chúng tôi được dịp quan sát tận mắt những con người bảo vệ quê hương trên từng thước biển, từng viên đá nhỏ như hạt cát bồng bềnh giữa đại dương.

Chúng tôi là người Việt Nam ở hải ngoại, không biết lấy gì để cảm tạ sự hy sinh đó. Chúng tôi chỉ biết lấy tấm lòng của mình từ hải ngoại hướng về quê cha đất tổ, hướng về Biển Đông, hướng về đảo, đá, bãi, đụn xa xăm, và hướng về các anh là những người đang đóng quân ở đây, đang trấn giữ ở đây…, chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi phải làm việc gì đó ở hải ngoại để đóng góp vào sự hy sinh của quý anh tại đây. Chúng tôi hứa sẽ cố gắng làm việc đó. Xin cảm tạ quý anh.

– Và cũng như các quý khách đến thăm quần đảo Trường Sa và cho sự quan tâm đến các kiều bào, có rất nhiều kiều bào không được đến thăm, xin phép anh cho chúng tôi trực tiếp ghi hình lại. Chúng tôi thực hiện điều đó để cho sự công bằng với các biển đảo, nếu không thì những điểm đảo khác không đến được sẽ rất thiệt thòi, anh thông cảm cho đoàn ạ, Đại tá Ngô Văn Sáng lên tiếng.

– Thưa quý anh, đại diện là anh Đặng Thế Hùng, phó Chủ tịch ủy ban nhà nước phụ trách người Việt nước ngoài cho chúng tôi có cơ hội đến đây, chuyên chở tình cảm của người Việt ở nước ngoài đến đây, gặp các anh em thủy thủ trên đảo Đá Nam, chúng tôi rất xúc động. Chúng tôi sẽ mang những chuyện này về nói với các bạn tôi ở nước ngoài, để cùng nhau chúng ta, người Việt trong nước, người Việt nước ngoài, cùng giữ vững những gì mà tổ tiên ta, ông cha ta đã dầy công dựng nước.

Tại đảo Đá Nam, Thượng úy Nguyễn Huy Hải, đảo trưởng đã tặng cho nhà báo Lý Kiến Trúc một con ốc Đá Nam tên là Ốc Càng.

Bây giờ là 9 giờ 20 phút, chúng tôi sửa soạn rời đảo Đá Nam trở lại tàu mẹ và sẽ đi thăm đảo Song Tử Tây./

Ốc càng đảo Đá Nam.

++++++++++++++++++++++

Phỏng vấn bà Nguyễn Nguyệt Rạng, một phụ nữ tranh đấu ở quận Cam

Ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn bắt tay chào hỏi hai bà Ngụy Văn Thà và Nguyễn Nguyệt Rạng trên đảo Song Tử Tây. Ảnh Văn Hóa Magazine

Lời giới thiệu:

Hôm nay là ngày 21-04-2014 chúng tôi đang đi thăm đảo Sơn Ca. Ngay trên đảo Sơn Ca chúng tôi vô tình gặp bà Nguyễn Nguyệt Rạng, bà là một thành viên trong phái đoàn đi thăm quần đảo Trường Sa. Tuy là một phụ nữ khá lớn tuổi ở hải ngoại, bà Rạng vẫn thường tham gia sinh hoạt đấu tranh với nhiều tổ chức chính trị, hơn nữa, bà có cảm tình đặc biệt với đảng Việt Tân nhất là giới trẻ.  Trong chuyến về thăm Trường Sa bà Rạng đã bị công an bắt giữ ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất khi vừa bước xuống máy bay. Bà đạ bị tạm giữ 8 tiếng để điều tra. Điều tra xong, công an tống xuất bà lên máy bay trả về Mỹ, nhưng một bất ngờ diễn ra: Ông Nguyễn Thanh Sơn Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đã sử dụng quyền trưởng phái đoàn “Hải trình 3” yêu cầu công an thả tức khắc bà Rạng.

Mời quý bạn đọc theo dõi cuộc phỏng vấn của chúng tôi :

– LKT: Thưa bà, xin phép được hỏi bà,cảm nghĩ của bà trong chuyến đi thăm Trường Sa lần này?
– Bà NGUYỄN NGUYỆT RẠNG: Chào ông Lý Kiến Trúc, tôi là Nguyễn Nguyệt Rạng, có mặt trong đoàn đi thăm Trường Sa lần này, vô tình may mắn được gặp nhà báo Lý Kiến Trúc, ông có một buổi chuyện trò muốn tôi chia sẻ những cảm nghĩ trong chuyến đi này.

Phải nói là tôi rất may mắn khi được đặt chân tới những hải đảo này. Sự may mắn mà tôi nghĩ có lẽ hồn thiên sông núi đã phù hộ cho tôi, cũng như sự nhiệm màu nào của Thượng Đế đã giúp tôi có cơ hội được đặt chân lên những hòn đảo mà tôi ước mơ, những hòn đảo đang tranh chấp, thế giới đang nhìn vào. Tôi rất sung sướng hít thở không khí ở ngoài biển đảo, nơi từng đặt chân của tổ tiên của mình, từ bao nhiêu ngàn năm trước, họ đi ra đây bằng thuyền buồm rất khổ sở để đến và giữ những hòn đảo giang sơn gấm vóc của đất nước. Chúng tôi đi trên 1 chiến hạm khá lớn, được an toàn bình yên, đó là một sự bình yên do sự réo gọi của hồn thiêng sông núi xui khiến cho chúng tôi có cơ hội được đặt chân đến mảnh đất của ông cha ta từ xưa.

– LKT: Bà gặp những ai trên hòn đảo này?
– NNR: Trên hòn đảo tôi đã gặp rất nhiều báo chí và nhiều người ở trên nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Đức, Anh, Na Uy, nhiều lắm. Mỗi người có một ý kiến riêng. Riêng tôi thì cũng có những cái xúc động, bức xúc khi nhìn những người lính trẻ trên đảo Song Tử Tây, họ quá trẻ, non trẻ. Tôi nhìn họ, lòng tôi xúc động, tôi rơi nước mắt. Tôi nhìn thật sâu vào họ, tôi nhìn ánh mắt, làn da sạm, sự vô tư của họ, tôi nghĩ đến việc tôi nhìn họ hôm nay, nhưng sự sống chết của họ không biết đến giờ phút nào, tôi đau lòng. Nước mắt tôi rơi. Họ đã thật sự là những người giữ biển đảo. Họ thật sự là những người hy sinh. Tôi hòa mình cùng với những chiến sĩ của cả 2 miền Nam Bắc đã bỏ mình để gìn giữ những hòn đảo xa xăm. Cuộc sống của họ rất là khó khăn. Thời tiết khắc nghiệt, nhưng trên hết là mạng sống của họ.

– LKT; Cám ơn bà! Dường như là bà có được vài lần tiếp xúc với ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, bà có ý nghĩ nào, hay có một sự so sánh nào về nhân vật này với một số nhân vật ở hải ngoại? chẳng hạn như một số lãnh đạo những tổ chức chính trị ở hải ngoại mà bà đã từng được gặp mặt?
– NNR: Thưa nhà báo Lý Kiến Trúc, tôi có dịp gặp ông Sơn qua mạng lưới Internet, tôi ngưỡng mộ, lần đầu tiên có cảm tình đặc biệt với ông này là vì trong phòng làm việc của ông Sơn có một cái bàn thờ. Một người Cộng Sản mà trong phòng làm việc có một cái bàn thờ Phật. Điều đó nó đến gần với tôi. Tôi cũng có ước mơ được tiếp xúc với ông Nguyễn Thanh Sơn bằng xương bằng thịt. Và tôi đã có cơ hội đó. Sau đó một vài lần, qua những câu chuyện, tôi có ngưỡng mộ một người trẻ có một sự đột phá. Còn trẻ, đang có quyền hạn, mà dám đột phá để đưa các ý thức hệ đến gần với nhau, để cùng xây dựng đất nước. Còn nếu mà về so sánh, trong đầu tôi có một suy nghĩ, tôi nhìn ông Nguyễn Thanh Sơn đang có thực quyền và tôi nhìn một người trẻ ở hải ngoại. Tôi có một suy nghĩ, tôi cùng ngưỡng mộ hai người. Họ có những tài năng, đức độ riêng. Họ cùng nhìn về đất nước nhưng nhìn với 2 cái nhìn khác nhau. Họ có một trái tim chung về đất nước nhưng tư tưởng họ có những cái khác nhau vì họ lớn lên trong 2 hoàn cảnh, 2 xã hội khác nhau. Nhưng tôi nghĩ, họ cùng là người Việt, họ cùng một đất nước Việt Nam. Họ cùng có một lòng yêu nước.

– LKT: Bà có thể tiết lộ tên của người hải ngoại mà bà ngưỡng mộ đó là ai không?
– NNR: Thưa nhà báo Lý Kiến Trúc, câu hỏi của ông nó khá tế nhị. Nhưng nếu nói thật, phải nói thật, thì hình ảnh Đỗ Hoàng Điềm ở hải ngoại và hình ảnh của ông Nguyễn Thanh Sơn là những hình ảnh của 2 người trẻ mà tôi ngưỡng mộ.

– LKT: Xin cám ơn bà Đỗ Thị Rạng đã trả lời cuộc phỏng vấn ngắn của chúng tôi, nhưng có rất nhiều ý nghĩa, xin cảm ơn bà rất nhiều!/

+++++++++++++++++

Phỏng vấn bà quả phụ phu nhân cố Hải quân Tr/tá Ngụy Văn Thà

 

Lời giới thiệu:

Trong lúc đi dạo quanh chiếc HQ-571 nặng 2000 tấn của HQ VN; chúng tôi bắt gặp bà quả phụ cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà, nguyên Hạm trưởng HQ-10 đã anh dũng chiến đấu với HQ TC ở nhóm Nguyệt Thiềm quần đảo Hoàng Sa. Cái chết của ông đã đi vào lịch sử HQ VNCH. Bà Thà ngồi riêng rẽ một mình trên “boong”, mặt trầm ngâm, đôi mắt xa xăm nhìn ra trời cao biển rộng, mênh mông xa vắng.

Ngồi từ trái: Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn (áo pull sọc trắng đỏ), bà quả phụ Ngụy  Văn Thà, cựu Đại tá Vũ Hữu Lễ Thuyền trưởng HQ 505. Ảnh Văn Hóa Magazine.

– LKT: Kính chào bà quả phụ cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà.
– Bà NVT: Dạ chào anh.

– LKT: Tôi là một nhà báo ở Mỹ. Rất là may mắn được gặp bà trên chuyến tàu Trường Sa này, bà có thể cho phép chúng tôi thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn được không?
– Bà NVT: Dạ thưa, được.

– LKT: Thưa bà, vô tình chúng tôi được gặp bà tối hôm qua trong buổi Ceremony, Giao lưu Văn hóa Văn nghệ, bà ngồi bên cạnh một người đàn ông, bên cạnh ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn. Vậy, ngoài ông Sơn, bà có biết người đàn ông bên cạnh bà là ai không?
– Bà NVT: Dạ thưa, biết. Tại vì lúc tôi ở dưới tàu đi lên. Tôi đang đi ngang qua chỗ giao lưu văn nghệ thì anh Sơn mời tôi ngồi xuống.

– LKT: Người đàn ông bên cạnh bà là ai?
– Bà NVT: Dạ anh Nguyễn Thanh Sơn!

– LKT: Bên cạnh nữa?
– Bà NVT: Bên cạnh nữa là anh Thọ, mà tôi không biết họ, tôi chỉ nghe anh Sơn kêu là anh Thọ và giới thiệu cho tôi thôi.

– LKT: Vậy nhân tiện đây tôi cũng xin nói với bà luôn. Cái người ngồi bên cạnh đó là Đại tá Hải quân Vũ Hữu Lễ, người được vinh danh là anh hùng của quân chủng HQ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
– Bà NVT: Dạ!

– LKT: Hôm đó chúng tôi bắt gặp hình ảnh rất đặc biệt. Bà có ngạc nhiên khi biết bên cạnh bà là một đại tá không?
– Bà NVT: Dạ thưa, không biết. Chỉ biết là anh Sơn kêu ngồi ở đây, có người anh Sơn kêu là anh Thọ ngồi kế bên.

– LKT: Lý do nào mà bà được ông thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn mời?
– Bà NVT: Anh Sơn nói là mời đi ra Trường Sa, Hoàng Sa để làm lễ cầu siêu cho 74 tử sĩ anh hùng Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó làm tôi thấy rất vui mừng và cảm động lắm nên tôi đi.

– LKT: Thế thì thưa bà, bà đã được dự bao nhiêu lần những cuộc lễ cầu siêu cho các tử sĩ ở Hoàng Sa?
– Bà NVT: Dạ thưa, tôi mới đến đây lần đầu tiên.

– LKT: Sự tiếp đãi của người ta như thế nào?
– Bà NVT: Tôi thấy cảm động lắm vì người ta tiếp đãi mình rất chân thật, người ta tổ chức lễ cầu siêu như vậy thì mình thấy rất mang ơn và xúc động.

– LKT: Bà còn nghĩ đến những chiến sĩ anh em hải quân của Việt Nam Cộng Hòa ngoài hải ngoại không?
– Bà NVT: Dạ thưa có. Cũng nghĩ đến mấy anh là bạn bè của chồng tôi, cùng chung khóa, thì mấy anh cũng có liên hệ về hỏi thăm. Tôi thấy mấy anh cũng còn nghĩ đến anh Thà nhiều lắm.

– LKT: Bà có biết là các anh em chiến sĩ hải ngoại năm nào cũng tổ chức lễ tưởng niệm và ghi nhớ các tử sĩ của trận chiến Hoàng Sa đó không?
– Bà NVT: Dạ thưa biết. Vì hàng năm đến ngày 19-01, thì ở bên Cali, và các tiểu bang khác nữa, người ta gọi điện về để phỏng vấn nói về buổi lễ nói về ngày 19-01-74. Người ta có phỏng vấn và thâu tiếng nói mình để qua bên đó trong cái buổi lễ tổ chức luôn. Là cô Trâm An đó, ở Cali.

– LKT: Thế có khi nào anh em bên đó họ mời qua bà qua bên Mỹ chơi không?
– Bà NVT: Dạ thưa không có.

– LKT: Chưa có lần nào hết?
– Bà NVT: Dạ chưa.

– LKT: Bà có được các anh em bên đó yểm trợ về tài chính hay quà cáp gì không?
– Bà NVT: Dạ trình bày với anh thế này, hàng năm, trước ngày 19-01, mấy anh em cùng khóa 12 Song Ngư, hải quân, có gửi về cho $100, một số anh em khác cũng có cho mỗi người $100 hay $50, chỉ trong những ngày đó thôi. Những anh em cùng đồng đội hải quân với nhau cũng có giúp đỡ chút đỉnh trong những ngày Xuân. Cả các anh em bên Úc cũng gởi tiền về giúp gia đình tôi sống qua ngày.

– LKT: Xin phép được hỏi bà câu này, hoàn cảnh cuộc sống hiện nay của bà ra sao?
– Bà NVT: Thì bây giờ các cháu có gia đình hết rồi. Tôi sống một mình và giữ 2 đứa cháu ngoại. Con tôi buôn bán nhỏ, thỉnh thoảng cũng có cho tôi chút ít để mình xài qua ngày vậy thôi.

– LKT: Thưa bà, gần đây có nhà văn Huy Đức ở trong nước đã tổ chức một nhịp cầu Hoàng Sa, thì ông ta đã huy động được lòng hảo tâm của đồng bào nói chung, trong nước và ngoài nước. Nghe nói là đã có xây được 1 căn nhà cho bà, có phải không?
– Bà NVT: Dạ thưa trình bày với anh như thế này, cái nhóm Huy Đức với Đỗ Thái Bình làm nhịp cầu Hoàng Sa, được sự hỗ trợ của anh em nước ngoài cũng như trong nước. Trong khi đó nhà tôi bị giải tỏa từ năm 2009 đến nay cũng gần 5 năm rồi.

– LKT: Ở quận mấy thưa bà?
– Bà NVT: Dạ thưa ở quận 10. Nhà tôi ở chung cư, từ năm 73, từ lúc tôi lấy anh Thà và ở đó luôn. Bây giờ giải tỏa thì nhà nước, à chủ đầu tư có định giá nhà tôi là 540 triệu, à 546 triệu. Bây giờ, nhóm anh Huy Đức có làm nhịp cầu Hoàng Sa, rồi có thâu được một số tiền, và đứng ra mua cho tôi một căn nhà. Trị giá căn nhà đó là 1 tỷ 2. Lấy 1 tỷ 2 đó trừ vô số tiền nhà mà người ta đền bù cho tôi, tôi không có lấy số tiền đó ra. Tiền đó nhà đầu tư vẫn giữ, trừ ra còn bao nhiêu thì nhóm Huy Đức lo cho tôi. Hiện tại bây giờ đang làm thủ tục, nhưng mà nó còn rắc rối chút xíu giấy tờ. Vì mấy anh có xin nhà đầu tư giảm giá 15% nhưng chưa được trả lời. Anh Huy Đức có nói nếu mà không giảm giá thì cũng mua đại. Còn vấn đề nhà đầu tư đòi là tiền hỗ trợ cho mình đi thuê nhà mỗi tháng. Bây giờ đã 5 năm trời lấy tiền đâu mà trả lại? Thì anh Huy Đức có nói nếu không trả lại cho mình số tiền đó, thì anh Huy Đức cũng lấy số tiền mà mấy anh em hỗ trợ cho nhịp cầu Hoàng Sa để mua, trả luôn 1 lần, không có góp nữa.

– LKT: Xin phép hỏi bà 1 câu hỏi cuối cùng: Bà đi chuyến này bà có thấy vui không?
– Bà NVT: Dạ thấy vui và cũng cảm động lắm, vì ông Nguyễn Thanh Sơn mời đi chuyến này để dự lễ cầu siêu cho 74 tử sĩ của cuộc hải chiến Hoàng Sa, với lại mấy anh ở Gạc Ma, nói chung là Việt Nam Cộng Hòa và mấy anh lính Việt Nam hiện nay. Mình thấy cũng cảm động lắm và mình rất trân trọng cám ơn anh Sơn!

– LKT: Nhưng mà nếu mấy anh em bên Mỹ có mời bà đi Mỹ thì bà có sẵn sàng đi không?
– Bà NVT: Không!

– LKT: Cám ơn bà./

+++++++++++++++

Phỏng vấn Đại tá Vũ Hữu Lễ, Thuyền trưởng tàu 505 dự trận Gạcma 1988

Cầu nguyện Mẹ Biển Đông trước khi ra khơi hải hành chuyến “Hải trình 3”. Ảnh Văn Hóa Magazine. 

Lời Tòa Soạn:

Trong một buổi “giao lưu văn hóa văn nghệ” trên boong chiến hạm HQ 571, chúng tôi thấy hai người ngồi bên cạnh ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn. Hình ảnh hấp dẫn đến nỗi các phóng viên ‘nhào” tới chụp lia lịa. Hóa ra sau khi nghe lời giới thiệu mới biết hai người đó là bà quả phụ Ngụy Văn Thà và Đại tá Vũ Hữu Lễ, Thuyền trưởng tàu 505, con tàu đã cấp cứu tàu 604 đang bị chiến hạm Trung cộng bắn giết ở khu vực đảo Gạcma. Tàu 604 chỉ huy bởi Thuyền trưởng Vũ Huy Trừ bị bắn chìm, còn tàu 505 của Đại tá Vũ Huy Lễ bị bắn trọng thương nhưng vẫn cố ‘lết” đâm vào bãi đá Côlin và bám trụ tại đó.

Ngồi từ trái: Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn (áo pull sọc trắng đỏ), bà quả phụ Ngụy  Văn Thà, cựu Đại tá Vũ Hữu Lễ Thuyền trưởng HQ-505. Ảnh Văn Hóa Magazine.

LKT: Hôm nay là ngày 19-4, chúng tôi là đại diện cho tờ VanhoaMagazine tại California có dịp được phỏng vấn 1 sĩ quan cao cấp của Hải quân Việt Nam. Ngồi trên chiếc tàu Trường Sa 571 đang trên đường đi ra thăm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, rất may mắn được gặp vị sĩ quan này. Đó là ông Vũ Huy Lễ, Hải quân Đại tá của  Quân chủng Hải quân Việt Nam. Ông là một nhân vật lịch sử trong trận Gạcma năm 1988, ông là một nhân chứng cao nhất trong trận chiến Gạcma. Kính chào đại tá.
– VŨ HUY LỄ: Vâng, xin chào ông.

– LKT: Thưa ông, xin ông có thể nói cho đọc giả của chúng tôi tại Mỹ sơ lược vài tiểu sử về quá trình hoạt động của ông trong hải quân hay không ?
– VHL: Vâng, tôi cũng sẵn sàng nếu như các anh có đề nghị, tôi tên là Vũ Huy Lễ, đã học xong ở trường phổ thông, tức là học cấp 3, cái đấy là học cấp 3, 10/10 ấy, học xong phổ thông thì tôi vào đại học. Khi vào trường đại học được 9 tháng tức là học dự khóa thì diễn ra cái sự kiện năm 64, mùng 5-8 năm 64. Sự kiện đó thì chắc là ông cũng đã biết, tức là ngày mùng 5-8 năm 1964 ở Vịnh Bắc Bộ, gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Ma-đốc, sau đó rồi thì Mỹ cũng thường cho máy bay đến bắn phá miền Bắc; vào những ngày đó chúng tôi học thì đúng là ngồi học không yên vì cứ thỉnh thoảng một ngày 2-3 lần máy bay của Mỹ thường đến bắn phá Hải Phòng và miền Bắc.

– LKT: Xin lỗi, tạm thời ngắt lời đại tá.
– VHL: Vâng!

– LKT: Ông có cho rằng cái sự kiện Maddox năm 64 đó là sự kiện dàn dựng của Mỹ hay là sự kiện …, không phải là một sự kiện thật?
– VHL: Thực tế thì thời đó thì tôi cũng là một sinh viên cho nên là am hiểu về cái việc này thì nó cũng chưa thật là sâu sắc lắm , thế nhưng đây là một cái sự việc thật mà Mỹ đã cho tàu đến để gây ra cái sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

– LKT: Thưa ông ngoài sự kiện đó ra thì ấn tượng nào lớn nhất trong cuộc đời hải quân của ông đối với bờ biển VN?
– VHL: Tôi thì tính đến nay là 34 năm trong quân đội, phục vụ trong quân chủng hải quân, trong quá trình phục vụ trong quân chủng hải quân, tôi cũng được làm thuyền trưởng của nhiều loại tàu của quân chủng hải quân. Nhưng mà những kỷ niệm sâu sắc nhất trong tôi mà chúng tôi không thể quên được đó là năm 1988 vào ngày 14-3 năm 1988, khi tàu tôi đang neo đậu và hoạt động bình thường ở trên đảo Cô Lin thuộc quần đảo Trường Sa. Thì sáng sớm hôm ấy “nước ngoài” cho tàu chiến đến bắn phá chúng tôi, đánh chúng tôi, trong quá trình đánh phá như vậy thì bên đảo Gạc Ma, tức là 2 cái đảo của chúng tôi gần nhau, tôi thì ở khoảng cách 4 hải lý, tàu tôi 505 được lệnh giữ đảo Cô Lin, còn tàu 604 thì được lệnh giữ đảo Gạc Ma, sáng hôm đó đối phương cho 2 tàu chiến đến bắn phá tàu 604.

– LKT: Vâng thưa ông, xin được ngắt lời ông là bên nào nổ súng trước?

– VHL: Bên đối phương họ có súng lớn thì họ nổ súng trước, lúc đấy chúng tôi nghe thấy ở bên đảo Gạc Ma có tiếng lục bục tiếng súng nổ, và nhìn nòng súng của 2 tàu chiến đối phương lửa cứ lóe lên  thì tôi hiểu là bên đấy là họ đang bắn chúng tôi. Cho nên là chỉ 5-6 phút sau là tàu 604 của chúng tôi bị chìm.

– LKT: Vâng, tàu 604 là tàu chiến hạm hay là tàu bình thường?
– VHL: Tàu 604 là tàu vận tải bình thường mà chúng tôi vẫn hoạt động ra ngoài Trường Sa để thăm đảo, rồi đưa tiếp tế cho nhân dân, quân và dân trên đảo.

– LKT: Sau đó thì ra sao ?
– VHL: Sau đó thì khi tàu 604 bị chìm thì chúng tôi cũng bắt đầu nhổ neo và cơ động để mà tránh đạn của đối phương. Khi mà 604 chìm thì đối phương quay nòng súng sang bắn chúng tôi ngay (tàu 505), bắn cấp tập tất cả 2 pháo của 2 chiến hạm của đối phương bắn cấp tập vào tàu tôi, và toàn bộ cái mạn bên phải của tàu bị trúng đạn, đài chỉ huy trúng đạn, rồi phòng thuyền trưởng trúng đạn, phòng báo vụ VTD cũng trúng đạn, anh em bị thương nhiều, tàu bốc cháy ngùn ngụt, cháy rất dữ dội, thế rồi tất cả đạn 85 li, 100 li của đối phương bắn dưới vạch mức nước, thủng nhiều, tàu tôi bị thủng nhiều.

– LKT: Lúc đó ông là hạm trưởng của tàu 604?
– VHL: Không, tôi là hạm trưởng tàu 505, tức là đối phương bắn chìm tàu 604 xong  thì quay nòng súng sang bắn tàu 505 của chúng tôi

– LKT: Hạm trưởng của tàu 604 là ai?
VHL: Tàu 604 là đồng chí Vũ Huy Trừ, lúc đó đã hy sinh.

– LKT: Hy sinh tại chỗ?

– VHL: Vâng, tàu chìm, chìm theo tàu, cho nên là anh em ở trên đấy bị trôi dạt trên biển rất nhiều, chúng tôi phát hiện là nhìn qua bên đảo Gạc Ma là nhìn rõ là thấy người lố nhố ở trên biển, rất nhiều, và tàu tôi bị đối phương bắn trúng như vậy thì toàn bộ hệ thống điện của tàu bị mất cho nên không cơ động được, lái thì phải sử dụng bằng điện, thế là bây giờ mất điện rồi nên lái không thể điều khiển được, thế tôi mới lệnh cho anh em là phải xuống hầm lái để chuyển lái điện sang lái cơ để mình có thể mình cơ động, lúc đó anh em mò mẫm mãi không xuống được thì lại một quả pháo 85 li nó bắn trúng vào hầm lái mở ra được một cái lỗ rộng khoảng gần 1 mét vuông, ánh sáng mặt trời chiếu vào hầm lái thì anh em mới xuống được và chuyển từ lái điện sang lái cơ được, khi chuyển xong rồi anh em báo cáo lên là đã chuyển sáng lái cơ xong thì sử dụng được, thì lúc đó lại một quả pháo nữa lại bắn trúng vào trục lái của chúng tôi làm lái kẹt cứng không tài nào điều khiển được nữa.

– LKT: Thế như vậy thì cách nào mà cứu được anh em bên tàu 604?

– VHL: Vâng để tôi kể tiếp, tức là khi đó máy chính của 2 tàu tôi cũng bị hỏng, không nổ máy, bình nén khí bị trúng đạn nên xì hơi không điều khiển được máy chính, thế mà lúc đó thì gió mùa đông bắc thổi, tàu càng bị trôi ra xa đảo, ra xa đảo hơn cây số, mà ở đấy có độ sâu khoảng độ 1000 m, độ sâu rất sâu như thế, thế nên tôi nghĩ rằng nếu như mà là tàu chìm ở đây, tức là nước nó đã vào rồi đấy, dầu trôi ra lênh láng rồi, tàu bị nghiêng rồi, thế là khả năng tàu sẽ bị chìm, cho nên tôi nghĩ là tàu chìm ở đây thì toàn bộ, toàn thể cán bộ chiến sĩ ở trên tàu sẽ phải hy sinh hết, mà mình mất tàu, thế rồi mất đảo, không giữ được đảo, cho nên là bằng mọi giá mình phải sửa chữa máy để đưa tàu lên bãi cạn, xong rồi dùng súng bộ binh để mà đánh trả nếu như đối phương đưa quân lên đảo hoặc là đưa quân lên chiếm, đánh tàu chúng tôi, cho nên phải dùng súng bộ binh để đánh. Được anh em đồng ý anh em lao xuống các vị trí chiến đấu để chỉ đạo, các đồng chí trong ban chỉ huy tàu xuống các vị trí chỉ đạo cho anh em sửa chữa máy, rùi bịt vòi chống đấm, động viên bộ đội, động viên anh em để mà quyết tâm …

– LKT: Thế đại tá có nghĩ rằng tàu 505, 604 đã lọt vào ổ phục kích của Trung Cộng hay không?

– VHL: Tôi thì tôi nghĩ rằng không phải là ổ phục kích bởi vì nhiệm vụ của chúng tôi là đến đảo hoạt động bình thường, làm các hoạt động rất bình thường vì đảo của chúng tôi cho nên chúng tôi hoạt động hoạt động rất bình thường. Đối phương tự nhiên đến đánh tàu 604 xong lại đánh tàu của tôi thì cái đó thì chúng tôi…

– LKT: Tức là 2 tàu vận tải 505-604 hoàn toàn không biết gì về chiến hạm của Trung Cộng cả?
– VHL: Buổi chiều hôm trước là chúng tôi đã biết trước, khi chúng tôi thấy rằng có cái hiện tượng có thể là ngày mai hoặc đêm nay là họ chiếm đảo của mình, cho nên mình bằng mọi cách mình phải nêu cao tinh thần cảnh giác, quan sát thật là chắc chắn, thế rồi đêm hôm ấy chúng tôi cho người lên cắm cờ trên bãi cạn đó để giữ chủ quyền của mình, vì đây là đất của Việt Nam cho nên mình phải cắm cái cờ Việt Nam lên đấy để giữ cái chủ quyền của mình ở trên đảo.

– LKT: Đứng về phương diện quân sự, đại tá cho rằng những khu vực đảo Gạc Ma, Cô Lin thì khu vực đó quan trọng như thế nào đối với quần đảo Trường Sa?

– VHL: Thực ra thì về mặt quân sự thì nó một điểm mấu chốt để quan sát được mặt biển, các hoạt động của các tàu đi trên mặt biển, cái thứ 2 về mặt kinh tế thì ví dụ như là sau này mình xây dựng các cây đèn biển với các thứ thì mình cũng có thể quan sát được các hoạt động của các tàu nước ngoài đi trong khu vực của mình.

– LKT: Như vậy có thể là một trong các yếu tố mà Trung Cộng họ tàn sát các tàu 505-604 đó là có phải là do lý do về quân sự không ?

– VHL: Cái đó thì tôi cũng hiểu nó chưa thật là sâu sắc, thế nhưng tôi nghĩ rằng cái chính của họ là muốn chiếm quần đảo Trường Sa của chúng tôi để họ làm ví dụ như xây dựng kinh tế hoặc là quân sự, cái đó ý đồ của họ là họ muốn chiếm các đảo.

– LKT: Ý đồ chiếm Gạc Ma và Cô Lin là những trận chiến đầu tiên để thực hiện kế hoạch chiếm toàn bộ Trường Sa?
– VHL: Vâng Vâng …

– LKT: Vậy tại sao họ không đánh chiếm nốt?

– VHL: Bởi vì là ngoài việc sử dụng các loại vũ khí mà họ muốn chiếm ấy mà thì còn có cái sự thỏa thuận, rồi  xây dựng cái mối hòa giải giữa nước mình với nước bạn, để mà mình cố gắng làm sao để mà không xảy ra xung đột giữa 2 nước thì cái đó là cái cố gắng.

– LKT: Thì thưa đại tá tối hôm qua trong cái buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ đại tá có nhớ là đại tá ngồi bên cạnh một người phụ nữ đó, đại tá có biết người đó là ai không ?

– VHL: Tôi cũng chỉ biết đấy là quả phụ của một anh, một người ở chế độ cũ, đến đây để tham gia văn hóa văn nghệ và đi thăm đảo Trường Sa của chúng ta.

– LKT Theo chúng tôi được biết thì bà quả phụ đó là vợ của cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà, ông ta là hạm trưởng chiếc HQ10, ông đó là hạm trưởng chỉ huy trận chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974, đại tá nghĩ thế nào về cái trận chiến Hoàng Sa, nó có liên quan với trận chiến Gạc Ma năm 88 hay không ?

– VHL: Tôi thì tôi nghĩ rằng cái âm ưu độc chiếm biển Đông của đối phương là họ rất là sâu sắc trong cái đầu óc của họ rồi, họ không nghĩ rằng là đất đó là của Việt Nam mà chúng tôi thì khẳng định hằng bao nhiêu đời đây là cái đất Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam mình, cho nên là không thể không phải như thế được, cho nên khi mà nghe được cái lệnh đi bảo vệ quần đảo Trường Sa là chúng tôi cũng rất là phấn khởi, rất là tin tưởng vào cái sự bảo vệ đó của nhà nước mình.

– LKT: Đại tá nghĩ như thế nào về sự hy sinh của 74 chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa tại trận Hoàng Sa?

– VHL: Tôi nghĩ rằng là anh em Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa cũng là bảo vệ đất nước của mình, bảo vệ đất nước của Việt Nam mình, cho nên là dù có phải hy sinh đến người cuối cùng nhưng mà mình giữ được cái đảo Hoàng Sa, cái quần đảo Hoàng Sa hoặc là Trường Sa thì mình cũng vẫn phải tôn vinh họ lên trở thành những người anh hùng những người giữ đảo giữ đất nước của Việt Nam mình, đấy thì tôi cũng nghĩ như thế.

– LKT: Vâng, tối hôm qua cũng do sự bố trí của ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, đại tá đã ngồi gần vợ một người anh hùng của Việt Nam Cộng Hòa và đại tá cũng là một anh hùng hải quân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thì ông nghĩ thế nào về sự bố trí do 2 người anh hùng đó của 2 miền gặp nhau trong tối hôm qua?

– VHL: Tôi thì tôi nghĩ rằng đây là cái sự hòa hợp, chúng ta luôn luôn mong muốn sự hòa hợp thống nhất giữa, không thể nói là miền Nam riêng, miền Bắc riêng được mà nó là sự hòa hợp giữa người dân tộc Việt Nam mình nói chung để giữ mảnh đất thiêng liêng của mình, dù là nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa, mình cũng phải quyết tâm giữ cho bằng được, dù là anh ở chế độ nào đi chăng nữa, anh đã thấm nhuần được cái đất nước của ta, cái mảnh đất đó là của Việt Nam thì bằng mọi giá phải giữ, cho nên phải hy sinh, cả nước mình vẫn phải tôn vinh họ là những người giữ đất nước, giữ đất, giữ nước của tổ quốc Việt Nam.

– LKT: Vâng cảm ơn đại tá câu hỏi cuối cùng là: thưa ông với cái lời lẻ của ông rất là lịch sự đối với những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng mà chúng tôi nhận thấy là trong một số báo chí và ngôn từ hiện nay ở trong nước vẫn còn dùng những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa là chữ “Ngụy”, ngụy quân ngụy quyền, cái điều đó có làm ông cảm nhận có sự khác biệt nào không ?


– VHL: Theo tôi thì cách sử dụng các từ đấy thì có thể về phía tôi thì tôi nghĩ rằng là mình cũng không sử dụng như thế nữa và từ nay trở đi ta nên sử dụng đó là một người Việt Nam bảo vệ đất nước Việt Nam mình của cái thời trước, theo tôi nghĩ thì như thế.

– LKT: Xin cảm ơn đại tá , thay mặt cho một cơ quan báo chí ở hải ngoại, ở nước Mỹ, chúng tôi vô cũng hân hạnh được tiếp xúc với đại tá trong buổi hôm nay và xin chúc đại tá sức khỏe dồi dào.

– VHL: Vâng, không có chi ạ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s